CHÚC MỪNG NĂM MỚI

KÍNH CHÚC QUÝ THẦY CÔ

MẤY GIỜ RỒI NHỈ

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    0 khách và 0 thành viên

    Tài nguyên dạy học

    Hỗ trợ trực tuyến

    • (Trần Thục Hiền)
    • (Hoàng Minh Phương)

    Điều tra ý kiến

    Bạn thấy trang này như thế nào?
    Đẹp
    Đơn điệu
    Bình thường
    Ý kiến khác

    CẢNH ĐẸP

    ĐỌC BÁO ONLINE

    Ảnh ngẫu nhiên

    Uoc_mo_cua_Rachel_PhotographersMicrosoft_2009.jpg Kenh_dao_PaNaMa.flv Nguyennhadongdat.flv Presentation1_2.flv Presentation1.flv VietnamBDKH.flv CUUNON_CHUC_TET.swf TruongChiMinuong.swf 5nghuyen_nhan_thuy_trieu.flv 2chuyen_dong_cua_he_mat_troi.flv CAY_BONG_HONG_TANG_CO.swf Lua_doi92.swf Xuatkhau.flv Tietkiemnoicongso.flv Tuyentruyenvetietkiem.flv Bongdentietkiem.flv Nhuongmeotietkiem.flv Giaiphapnangluongsach.flv EmoiHN_PHO.swf Loi_cam_on_sn_2013.swf

    Hôm nay tôi...

    Ngày hôm nay, tôi sẽ tin rằng mình là người đặc biệt, một người quan trọng. Tôi sẽ yêu quý bản thân tôi với chính những gì tôi có và không so sánh mình với những người khác.
    Ngày hôm nay, tôi sẽ tự lắng lòng mình và cố gắng trầm tĩnh hơn. Tôi sẽ học cách kiểm soát những cảm xúc và suy nghĩ của mình.
    Ngày hôm nay, tôi sẽ học cách tha thứ những gì người khác đã gây ra cho tôi, bởi tôi luôn nhìn vào hướng tốt và tin vào sự công bằng của cuộc sống.
    Ngày hôm nay, tôi sẽ cẩn trọng hơn với từng lời nói của mình. Tôi sẽ lựa chọn ngôn từ và diễn đạt chúng một cách có suy nghĩ và chân thành nhất.
    Ngày hôm nay, tôi sẽ tìm cách sẻ chia với những người bạn quanh tôi khi cần thiết, bởi tôi biết điều quý nhất đối với con người là sự quan tâm lẫn nhau.
    Ngày hôm nay, trong cách ứng xử, tôi sẽ đặt mình vào vị trí của người đối diện để lắng nghe những cảm xúc của họ, để hiểu rằng những điều làm tôi tổn thương cũng có thể làm tổn thương đến họ.
    Ngày hôm nay, tôi sẽ an ủi và động viên những ai đang nản lòng. Một cái siết tay, một nụ cười, một lời nói của tôi có thể tiếp thêm sức mạnh để họ vững tin bước tiếp.
    Ngày hôm nay, tôi sẽ dành một chút thời gian để quan tâm đến bản thân mình. Tôi sẽ làm tâm hồn và trí óc mình phong phú, mạnh mẽ hơn bằng cách học một cái gì đó có ích, đọc một cuốn sách hay, vận động cơ thể và ăn mặc ưa nhìn hơn.
    Ngày hôm nay, tôi sẽ có một danh sách những việc cần làm. Tôi sẽ nỗ lực nhất để thực hiện chúng và tránh đưa ra những quyết định vội vã hay thiếu kiên quyết.
    Ngày hôm nay, tôi sẽ bỏ lại phía sau mọi lo âu, cay đắng và thất bại, khởi đầu một ngày mới với một trái tim yêu thương và hồn nhiên nhất. Tôi sẽ sống với những khát khao, mơ ước mà mình luôn ấp ủ.
    Ngày hôm nay, tôi sẽ thách thức mọi trở ngại trên con đường mà tôi lựa chọn và đặt niềm tin. Tôi hiểu rằng, khó khăn là một phần của cuộc sống và chúng tồn tại là để tôi chinh phục và vượt qua.
    Ngày hôm nay, tôi sẽ sống hạnh phúc. Tôi sẽ trải rộng lòng để cảm nhận cái đẹp trong cuộc sống, để yêu thương và tin tưởng những người tôi yêu quý, và những người thương yêu tôi. Tôi sẽ làm những việc khiến tôi cảm thấy hạnh phúc: xem một bộ phim hài, làm một việc tử tế, giúp đỡ một ai đó, gửi một chiếc thiệp điện tử, nghe một bản nhạc yêu thích...
    Và hôm nay, ngay bây giờ, tôi cảm nhận được hạnh phúc và sức sống mới để bắt đầu một ngày mới thật có ích - bất kể ngày hôm qua như thế nào. Bạn cũng vậy nhé! Hãy nhớ rằng: Gieo suy nghĩ, bạn sẽ gặt hành vi. Gieo hành vi, gặt tính cách. Và gieo tính cách, bạn gặt số phận. Hãy gieo cho mình những suy nghĩ tích cực mỗi ngày để bạn có một tinh thần trong lành, mạnh mẽ. Hãy đọc trang này mỗi ngày như câu thần chú cho sức mạnh nội tại của bạn. Và bạn sẽ ngạc nhiên vì những kết quả bạn nhận được. Chúc bạn có một ngày hữu ích và tràn đầy những niềm vui, sự yêu thương – Trần Thục Hiền

    NGÔI NHÀ VIOLET

    THỜI TIẾT HÔM NAY

    Lấy code

    Chức năng chính 1

    Chức năng chính 2

    Hôm nay nhé!

    Chào mừng quý vị đến với Website Địa lý & Cuộc sống của Trần Thục Hiền.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > CÁC KHU VỰC THẾ GIỚI > Bài đọc thêm >

    * Bản sắc văn hóa của cộng đồng người Ấn ở Malaysia

    Ở Malaysia, người Ấn là cộng đồng người nhập cư lớn thứ hai sau cộng đồng người Hoa, chiếm khoảng 12,4% dân số toàn liên bang (thống kê 2004).

    Người Ấn Độ tại Malaysia chủ yếu là người Hindu Tamil từ miền nam Ấn Độ nói tiếng Tamil, cũng có các cộng đồng Ấn Độ khác nói tiếng Telugu, Malayalam và Hindi, sống chủ yếu tại các thị trấn lớn ở ven biển phía tây bán đảo. Quan hệ giữa người Ấn với Malaysia được lịch sử ghi nhận cách nay khoảng 2000 năm và những người Ấn đầu tiên đến bán đảo Malay chính là những thương gia, những viên chức tìm kiếm thị trường tiêu thụ hàng hoá, tìm kiếm nguồn nguyên liệu và thiết lập các khu vực thuộc địa.

    Đi cùng với họ là một nền văn hoá truyền thống độc đáo. Văn hoá Ấn Độ được thể hiện qua nhiều cơ tầng nhưng tiêu biểu và đậm nét nhất đó là dựa trên nền tảng của đạo Hindu (Ấn giáo). Văn hoá Ấn Độ ít nhiều để lại dấu ấn trong lòng văn hoá của người Malay, nhất là trước khi Malacca cải đạo tuyên bố sự ra đời của Nhà nước Hồi giáo vào thế kỷ 15.

    Về văn hoá vật thể

    Ø  Nhà ở, kiến trúc   

    temle_500

    Đền thờ Sri Mahamariaman.

    Kiến trúc Ấn tại Malaysia thể hiện rõ nét nhất qua hình ảnh các ngôi chùa, đền thờ, đặc biệt là đền thờ Sri Mahamariaman. Đền thờ này được xây dựng năm 1873, là một trong những đền thờ Hindu lớn nhất và lộng lẫy nhất ở đất nước này. Ngôi đền được trang hoàng công phu với những bức chạm khắc tinh vi, những bức tranh sơn son thếp vàng, những viên đá qúi và những viên gạch sắc xảo của Tây Ban Nha và Ý. Ngôi đền toạ lạc dọc theo Jalan Bandar trong khu phố người Hoa (China Town).

    Ø  Trang phục, trang sức

    Đàn ông Tamil theo truyền thống thường mặc quần áo trắng giống như một chiếc sarong với áo sơ mi trắng. Ngày nay cách ăn mặc này ít thấy ở các nhân viên văn phòng tại các thành phố, nhưng lại phổ biến trong các lễ hội.

    Trang phục truyền thống của phụ nữ Tamil là chiếc sari thanh lịch, đó là một khúc vải tốt, dài 6m quấn quanh thắt lưng và quấn qua một bên vai. Thân trên người phụ nữ mặc chiếc áo ngắn tay bó sát người có tên gọi ”choli”. Cách mặc đúng nhất là để gấu dưới của áo choli và chiếc sari cách nhau vài phân.

    Hiện nay, dưới ảnh hưởng của các trào lưu văn hoá phương Tây các cô gái trẻ người Ấn đã có xu hướng chạy theo thời trang hiện đại.

    Một người phụ nữ Ấn điểm một chấm đỏ trên trán hay một đường màu đỏ trên đường rẽ ngôi của mái tóc là người đã lập gia đình, chất màu đỏ này gọi là kumkum, một loại nghệ màu son đỏ. Các  cô gái chưa lập gia đình có thể chấm lên trán bất kỳ màu nào ngoại trừ màu đỏ. Một cô gái trẻ có hiểu biết về thời trang thường có đủ sắc màu để có thể kết hợp hài hoà với từng cái quần, chiếc áo trong tủ đồ của mình.

    Phần lớn người Ấn có học thức thường theo đạo Công giáo, nhưng họ vẫn giữ lại một số truyền thống dân tộc. Phụ nữ có thể mặc áo đằm theo kiểu Tây phương hoặc sari. Nam giới thường mặc đồ Tây đi làm, tuy nhiên họ lại thích nghỉ ngơi ở nhà trong chiếc sarong Malay, và nhiều người Malaysia khác cũng làm như vậy.

    Ta có thể nhận diện được người Sikh từ xa qua vóc người cao ráo, đầu chít khăn xếp. Nhiều người đàn ông vẫn tuân thủ điều cấm đoán của tôn giáo liên quan đến mái tóc – tức là không được cắt. Ria mép và râu quai nón cũng không được cạo, mà bện qua một bên và lồng vào dưới mép khăn xếp. Tóc nam giới được cột chặt trong một chiếc khăn lụa trên đỉnh đầu. Khi chàng trai người Sikh trưởng thành, trở thành người đàn ông thực thụ thì anh ta sẽ bắt đầu đội nón mềm và chít khăn xếp đặc trưng của dân tộc mình. Nhiều người Sikh cắt tóc và để “đầu trần” khi ra ngoài mỗi ngày, nhưng khi đi lễ hay ghé thăm những người họ hàng bảo thủ, họ luôn che kín đầu.

    Phụ nữ người Sikh mặc bộ đồ salwar – khamis, và đeo mạng che mặt mỗi khi ra khỏi nhà. Bộ đồ truyền thống này có đủ loại kiểu dáng từ rộng thùng thình đến thướt tha duyên dáng được dệt thủ công bằng tay hay thêu máy. Đặc điểm của trang phục là cả cánh tay và chân đều phải được che kín đáo.

    Về Văn hoá phi vật thể                                                                 

    Ø  Hôn lễ                        

    Nhiều thanh niên nam nữ người Ấn vẫn còn kết hôn theo sự sắp đặt trước của cha mẹ. Ngày xưa người Ấn ở Malaysia có thể gởi lá số tử vi và bản tường thuật chi tiết về cá nhân của con trai hay con gái mình tới một người làm mai ở “quê cũ”. Người làm mai chuyên nghiệp này sau đó sẽ tìm được một người bạn đời thích hợp cho chàng trai hay cô gái trên cơ sở tính toán về thuật chiêm tinh.

    Một người Malaysia dưới 21 tuổi cần phải được sự đồng ý của cha mẹ mới được phép kết hôn, nhưng theo luật pháp cha mẹ không được ép gả trái với ý muốn của con mình. Một số thanh niên vẫn chấp nhận hôn nhân sắp đặt trước; các chuyên gia cho rằng hôn nhân sắp đặt trước cũng không kém phần hạnh phúc so với cưới nhau vì tình, và có khi còn hạnh phúc hơn. Thông thường là chàng trai sẽ tự chọn trước cho mình một cô gái thích hợp và sau đó sẽ báo cho ba mẹ mình biết.

    Ngay cả khi đôi nam nữ đã tìm thấy và chọn lựa nhau, thì theo truyền thống vẫn phải cần một người làm mai đến gặp cha mẹ đôi bên để dàn xếp chuyện hôn nhân. Một trong những nhiệm vụ của người làm mai là phải xác định chắc chắn rằng cả hai gia đình cùng đẳng cấp, và lá số tử vi của đôi nam nữ là hợp nhau. Người làm mai cũng phải đến hỏi một vị tăng sư để chọn ngày lành tháng tốt cử hành hôn lễ.

    Hôn lễ có thể được tổ chức ở nhà cô dâu hoặc ngôi đền địa phương, thường thì nơi nào rộng hơn sẽ được chọn. Việc tụng kinh và các nghi thức có thể diễn ra trong nhiều giờ liền hoặc được cử hành nhanh chóng. Tất cả tuỳ thuộc vào ý muốn của hai bên gia đình và các nhà sư có kéo dài việc tụng kinh hay không.

    Điều không thể thiếu trong một đám cưới của người Ấn là phải có một phụ nữ có cuộc hôn nhân hạnh phúc và có nhiều con cái đứng ra trồng một cây thánh cho đôi vợ chồng. Người phụ nữ này sẽ cột thắt lưng của chú rể vào chiếc sari của cô dâu khi họ bước quanh ngọn lửa thiêng. Trong lễ cưới, chú rể phải thắt một chiếc thali bằng vàng quanh cổ cô dâu.

    Các vị khách đến dự lễ cưới xếp thành từng hàng đi ngang qua cô dâu chú rể, và rải gạo vàng lên người họ cũng như chấm bột đàn hương lên trán họ. Cô dâu lúc bấy giờ sẽ có một chấm đỏ trên trán cho biết cô đã lập gia đình. Cô dâu được đeo nhiều nữ trang trên đầu, trên cổ và trên hai cánh tay để nói lên niềm vui và sự thịnh vượng. Nếu lễ cưới được tổ chức tại một ngôi đền, thì tất cả khách mời phải cởi giầy ra ở bậc tam cấp.  Họ có thể trao quà cho người nhà của cô dâu chú rể; tuy nhiên họ sẽ được đánh giá lịch sự hơn nếu tặng quà cô dâu chú rể một ngày trước khi lễ cưới được cử hành. Quà biếu có thể là tiền mặt nhưng phải là một trong những con số lẽ 31, 41 hay 61 Ringit (đơn vị tiền tệ Malaysia).

    Ở thành phố, bữa điểm tâm trong lễ cưới thường được đặt nấu và mang đến phục vụ. Tại nông thôn, ở các đồn điền, người ta có thể thưởng thức các tiệc cưới “lá chuối” với tất cả sự sắp xếp bố trí theo truyền thống.

    Đám cưới của người Sikh thì hầu như được tổ chức tại các ngôi đền. Cô dâu ăn mặc lộng lẫy được cha hay anh em ruột của mình dẫn vào gặp chú rể – Ngày xưa cô dâu thường được khiêng vào. Cô dâu hay chú rể sẽ lạy tạ trước mặt vị phụ trách đền, và được dẫn đi quanh kinh thánh 4 lần. Chú rể thường mặc y phục truyền thống và dĩ nhiên chít khăn trên đầu. Tất cả đàn ông đến dự lễ cưới đều phải che đầu.

    Việc phục vụ ăn uống trong ngôi đền người Sikh là công việc của cộng đồng. Vài người đàn ông lực lưỡng sẽ chuẩn bị trước những cái chậu cực lớn để đựng bột nhồi roti dùng để làm một loại bánh nướng vỉ. Món bánh này sẽ được dọn ăn chung với nhiều loại cari thơm ngon khác nhau. Các bữa ăn tại đền dù là của người Sikh hay người Hindu, bao giờ cũng là những món chay.

    Ø  Những điều kiêng kỵ liên quan đến sinh nở:  

    Trong khi người vợ đang trở dạ, người chồng hồi hộp bước qua, bước lại ngoài hành lang, tay cầm một chiếc đồng hồ tốt. Bởi vì thời khắc chính xác khi đứa bé chào đời là rất quan trọng để vị chiêm tinh gia của gia đình có thể tính toán lá số tử vi của đứa trẻ. Giống như tất cả phụ nữ Malaysia, người mẹ Ấn được các phụ nữ lớn tuổi chăm sóc cẩn thận trong thời gian ở cử. Thời gian này thường kéo dài 16 hoặc 31 ngày tùy theo truyền thống gia đình. Khi thời gian ở cử kết thúc, đứa bé mới được coi là “an toàn”, không thể chết non được. Nó sẽ được người cha đặt cho một cái tên và được ra mắt gia đình trong một bữa tiệc nhỏ. Bạn bè đến thăm người mẹ mới sinh trong thời gian ở cử mang theo các loại quà tặng cho em bé hoặc một món tiền nhỏ. Trước khi ghé thăm, tốt nhất là nên gọi điện thoại xem thời điểm định ghé thăm có thuận lợi cho chủ nhà hay không bởi vì nhiều người Ấn cho rằng có những ngày xấu không phù hợp cho việc viếng thăm.

    Ø  Cách đặt tên

    Mỗi người Hindu đều có tên gọi riêng của mình với cụm từ chỉ giới tính là “con trai của” hay “con gái của” cộng với tên của người cha. Trong tên đầy đủ của người Hindu không có họ. Cụm từ để chỉ “con trai của” hay “con gái của” trong tiếng Malay là a/l (Anaklelaki) và a/p (Anak perempuan).

    Có khá nhiều người Ấn theo đạo Công giáo ở Malaysia. Những người này có tổ tiên từng được rửa tội bởi thánh Thomas tông đồ Chúa Giêsu cách đây khoảng 2000 năm. Những người này có họ theo thánh kinh như Ibraham, John, Samuel, Jacob được ghi trong phả hệ của gia đình. Một số người Ấn mang tên Bồ Đào Nha; những tên này có từ thời các vùng Goa, Ceylon, Malacca còn là thuộc địa của Bồ Đào Nha - là một cộng đồng có tên gọi là Chitties, họ đã sống ở Malaysia nhiều thế kỷ và hoàn toàn bị đồng hoá như người Hoa Baba. Những tên đặc trưng là Desilva, Rozario, Santa Maria được sử dụng làm họ từ thế hệ này sang thế hệ khác.

    Tất cả đàn ông người Sikh đều được gọi bằng tên cộng với Singh, Singh không hẳn là một cái họ mà là một từ chỉ giới tính. Ví dụ như Jagjit có thể là nam hoặc nữ, do đó muốn phân biệt phải có một chữ chỉ giới tính đi sau. Jagjit Singh (nam) hay Jagjit Kahr (nữ). Một phụ nữ người Sikh đã có chồng được gọi theo tên riêng của mình như Surinden Kaur; hoặc được gọi theo tên chồng là bà Sagjit, không đúng nếu ta gọi bà ta là bà Singh.

    Về cách xưng hô, người Ấn cũng như tất cả những người Malaysia khác đều được gọi là Encik đối với nam, Cik đối với những người chưa lập gia đình, hoặc Puan đối với phụ nữ đã có chồng. Nghề nghiệp của một người cũng được dùng như một hình thức xưng hô, ví dụ như Cikgu (thầy giáo),… Việc sử dụng tên riêng không kèm theo chức danh cho biết rằng hai người nói chuyện đang trao đổi rất thân mật với nhau. Người Ấn cũng gọi những người lớn tuổi hơn mình là “bác” và “thím“ cho dù những người này không có bà con họ hàng chi cả.

    Ø  Các nghi thức ở tuổi dậy thì

    Các gia đình Hindu truyền thống có một lễ kỷ niệm nhỏ khi đứa con gái bước vào tuổi dậy thì. Cô gái được mặc một chiếc sari mới (có thể từ trước đến thời điểm đó cô gái chỉ mặc áo đầm) và được đặt ngồi giữa các cô, dì đã có chồng. Các nghi thức tẩy uế khác nhau tùy theo địa phương sẽ được thực hiện nhưng phổ biến nhất là: tất cả những gì tích tụ trong sữa được đổ lên đầu cô gái và một ngọn đèn thấp sáng được đặt trong lòng bàn tay cô gái. Cuối cùng cô được tắm trong nước có hương thơm. Những người trong gia đình và bạn bè thân thiết có thể được mời để chứng kiến lễ này. Người ta tặng cho cô gái những món nữ trang bằng vàng hoặc quần áo mới. Sau nghi thức này cô gái được coi là có đầy đủ  tư cách để lập gia đình.

    Ø  Tang lễ

    Khi một người qua đời, những người trong gia đình sẽ thông báo cho tất cả bà con họ hàng biết. Xác người mất sẽ được tắm rửa, mặc quần áo mới và tẩm liệm. Trước đây, nếu người mất là người đàn ông đã lập gia đình, thì vợ người ấy phải mặc bộ đồ cưới ngồi lặng lẽ đau khổ bên cạnh xác chồng. Ngày nay điều quy định này đã không còn phổ biến nữa; người goá phụ thường mặc đồ tang trắng không có hoa văn. Bà con họ hàng sẽ đến chia buồn và giúp đỡ tang chủ. Khi xác chết được mang ra khỏi nhà, chiếc Thali trên cổ người goá phụ sẽ được một goá phụ khác tháo ra. Người phụ nữ có chồng vừa qua đời sẽ cởi tất cả trang sức và cởi luôn chiếc sari đám cưới (nếu như bà ta đang mặc nó). Từ lúc này người goá phụ sẽ tự mình đập vỡ chiếc vòng xuyến xinh xắn bằng thuỷ tinh và mặc đồ trắng, và bà ta sẽ không bao giờ được phép đeo nữ trang nữa.

    Người Hindu và người Sikh thường hoả thiêu xác chết mặc dù tục lệ chôn dưới đất vẫn còn. Tại các thành phố lớn của Malaysia thường có các lò thiêu; việc chất gỗ thiêu xác lộ thiên cũng rất phổ biến. Theo quy định của cộng đồng phụ nữ và trẻ con không được dự lễ hoả táng. Họ phải ở nhà với vợ của người mới mất, giúp bà ta lau chùi dọn dẹp nhà cửa.

    Ø  Lễ hội

    Hầu như mỗi ngày đều là lễ hội của người Hindu, nhưng đối với người Malaysia gốc Ấn thì chỉ có một vài lễ hội chính. Đó là Deepavali, Thaipusam và Thaipoggal. Các lễ hội khác chỉ được cử hành ở các ngôi đền địa phương.

    Deepavali hay Diwali – Lễ hội đèn:

    Đây là một trong những lễ hội được cử hành rộng rãi của người Hindu. Ở Malaysia, tất cả mọi người Hindu đều tham dự lễ này. Lễ rơi vào ngày trăng khuyết của tháng Kartik của người Hindu (tháng 10, 11). Có rất nhiều truyền thuyết xung quanh nguồn gốc của lễ hội này, nhưng phổ biến nhất ở Malaysia là truyền thuyết về sự chiến thắng của Sri Krishma, hiện thân của Vishnu đối với vua quỷ Narakasura.

    Trong một vài trường hợp, lễ hội được tiến hành để kỷ niệm sự chiến thắng cái thiện trước cái ác; cái thiện được tượng trưng bằng những ngọn đèn sáng lung linh xua tan bóng tối của tâm hồn.

    Lễ hội Deepavali cũng tượng trưng cho sự bắt đầu mới, đặc biệt có ý nghĩa đối với những thương gia chuẩn bị khai trương một năm làm ăn mới.Vào buổi sáng lễ hội, các gia đình Hindu thức dậy từ lúc rạng đông, tắm gội sạch sẽ bằng dầu cọ, mặc quần áo mới và cầu nguyện. Thông thường họ sẽ cùng nhau đến đền theo đoàn. Tất cả mọi ngôi nhà của người Hindu đều thấp đèn sáng trưng với niềm tin rằng thần sức khoẻ Lakshmi sẽ không vào nhà họ nếu không có đèn thắp sáng.

    Như những tôn giáo khác, Deepavali là một dịp để mọi người quên đi những bất đồng, xung đột trong quá khứ. Trong ngày này, người Hindu tin rằng khi ta quét ra khỏi nhà những điều xui xẻo thì những điều may mắn trong tương lai cũng sẽ đi theo; không nên làm đổ vỡ bất cứ một thứ gì. Người đầu tiên lấy nước giếng nơi gần nhà mình nhất trước khi mặt trời mọc được coi là sẽ may mắn, hạnh phúc, nhưng việc tắm trước rạng đông đối với những ai gia đình không có giếng cũng sẽ đạt được những những gì mong muốn. Đôi khi các gia đình cúng đồ chay (Prasadam) cho những người đã mất. Đối với trẻ em, cũng như những người Hồi giáo trong lễ hội Hari Raya Pussa và đối với người Hoa trong ngày Tết thì Deepavali cũng là ngày của quần áo mới, thức ăn ngon và những cuộc vui chơi giải trí.

    Thaiphusam:

    Lễ hội Thaipusam là một trong những lễ hội lớn nhất của người Hindu ở Malaysia, được tổ chức trong ngày trăng tròn của tháng Thai của người Tamil. Lễ này được tiến hành tại những ngôi đền. Có thể nói, hầu như tất cả đền “Saivite” của người Hindu tại Malaysia đều cử hành lễ hội này, đặc biệt tại nơi cất giữ hài cốt của thần Subramania. Ở Malaysia, Thaipusam được tổ chức trong một phạm vi rất rộng lớn tại Sungai Petani, Ipoh, Penang và Batu Caves, Selangor. Thông thường tại những thị trấn này chúng ta có thể thấy những đám rước dẫn đầu tiến đến các đền thờ thần  Subramania. Tại đây, các lễ cầu nguyện đặc biệt sẽ được tiến hành.

    Trong ngày này, những người mộ đạo Hindu tập hợp thành những đám đông tại những ngôi đền để cúng thần Subramania, dâng lên Ngài những bông hoa xinh đẹp, dừa, sữa, mật ong, mít và những thứ tương tự. Hầu hết tất cả đền thờ Subramania đều tọa lạc trên những đỉnh đồi. Những người Hindu sùng đạo đội đồ cúng của họ trên một cái “Kavadis”. Nhiều người sùng đạo chọn ngày này để thực hiện những lời thề nguyền của họ và để biểu diễn ma thuật. Thông thường thì trước đó họ đã phải trải qua giai đoạn ăn chay và tẩy uế. Sau đó họ đội “Kavadis” và leo từng bước lên nơi đặt thánh cốt thiêng liêng trên những đỉnh đồi với những bài kinh thánh được hát phụ hoạ, đặc biệt là những lời cầu nguyện được viết cho thần Subramania.

    Những người không đội “Kavadis” cũng theo đến những ngôi đền Hindu để tỏ lòng tôn kính và cầu nguyện thần Subramania.

    Thaiponggal:

    Đây là lễ hội thu hoạch của cộng đồng người Ấn ở miền Nam Ấn Độ. Lễ hội được tổ chức vào ngày đầu tiên của tháng Thai của người Tamil (tháng giêng, tháng hai).

    Từ “Ponggal” có nghĩa là gạo (gạo mới đầu mùa) nấu với sữa và đường. Lễ hội này có ý nghĩa “cúng thần lúa“. Trước lễ hội một ngày, người Hindu có tập tục lau chùi nhà cửa sạch sẽ và loại bỏ tất cả đồ đạc cũ rách mà thay vào đó bằng những thứ mới đẹp. Lối vào các ngôi nhà được trang hoàng công phu bằng lá xoài và cọng mía. Sân trong của nhà được trang trí những bức tranh làm bằng bột gạo. Trong ngày đó, gạo mới thu hoạch được nấu bằng nồi đất nung ở ngoài trời hoặc ở trong sân nhà. Khi gạo sôi những tiếng trống được đánh lên và tất cả mọi người sẽ hát bài hát “Ponggal” như: ponggal – ponggal … Sữa, đường, nho khô được trộn vào gạo rồi được trải lên những tấm lá chuối và dâng lên thần mặt trời, thức ăn mới nấu đó được chia cho bà con, bạn bè hàng xóm. Lễ cầu nguyện được tổ chức ở các ngôi đền để đánh dấu lễ hội này.

    Ngày nay lễ hội Thaiponggal thường được tổ chức một cách nghiêm trang ở các vùng nông thôn. Tháng này còn được đánh giá là thuận lợi, tốt đẹp cho việc cưới xin. Ngày hôm sau theo thường lệ sẽ diễn ra một lễ hội tương tự được tổ chức cho gia súc. Tại đây những thanh niên địa phương có cơ hội để chứng tỏ sự can đảm và sức mạnh của họ. Họ phải chinh phục một con bò đực và cưỡi lên cái lưng không có yên của nó. Ngày xưa để tưởng thưởng cho những người chiến thắng trong lễ hội này các vị trưởng làng thường gả con gái cưng của mình cho họ.

    Maha Shiva – Ratri:

    Lễ hội có tính chất tôn giáo này là một trong những lễ hội quan trọng nhất của người Hindu để tỏ lòng tôn kính đối với thần Shiva. Lễ hội này được tổ chức để kỷ niệm sự thức khuya cầu các bài kinh do nữ thần Uma Dewi đọc trong đêm trời đất vũ trụ tan biến tại điểm kết thúc của mỗi kỷ nguyên. Lễ được tổ chức suốt tháng Masi của người Tamil (tháng hai, tháng ba).

    Trong ngày này, lễ cầu kinh phải được cử hành suốt cả đêm. Những người sùng đạo hát thánh ca được soạn riêng để tỏ lòng tôn kính đến thần Shiva với lòng tin rằng bất cứ ai cử hành lễ này trong mỗi đêm Shiva – Ratri một cách thường xuyên thì chắc chắn sẽ được giải thoát và khi chết sẽ đến được nơi ở của Shiva.

    Pangguni Uttiram:

    Lễ hội này được người Hindu cử hành như lễ cầu nguyện ăn chay. Nó được tổ chức suốt ngày trăng tròn của tháng Pangguni của người Tamil (tháng ba). Đây là ngày kỷ niệm lễ cưới của Rama và Sita – nam nữ anh hùng của thiên sử thi Ramayana. Cuộc hôn nhân thiêng liêng này còn tượng trưng cho khái niệm của ngừơi Hindu về trời và ơn trời như một thể thống nhất không thể tách rời được. Ơn trời được nhân cách hoá dưới hình tượng Shakti.

    Lễ hội này được tiến hành tại tất cả các đền thờ Hindu nơi Shakti hiện ra như Maha Mariamman. Những người mộ đạo tập trung rất đông để cầu nguyện và để nhận phước lành. Ngoài ra cũng có các lễ đi trên lửa nóng và những đám rước bằng xe ngựa.

    Ngoài những lễ hội đã kể trên, người Ấn ở Malaysia còn có nhiều lễ hội khác được tổ chức như:

    - Puttandu: Vào ngày một tháng Chitirai đầu tiên của người Tamil(tháng tư). Năm mới được những người đạo Phật cũng như đạo Sikh cử hành. Tất cả mọi người mặc đồ mới và rất nhiều tiệc mừng được tổ chức. Những người Hindu sẽ thăm viếng bạn bè, bà con để chúc mừng một năm mới tràn đầy hạnh phúc.

    - Chitra Paurnami: Vào ngày trăng tròn của tháng Chitirai của người Hindu (tháng 4, tháng 5). Đây là lễ kỷ niệm một ngôi đền và là ngày hội tại nhiều thị trấn ở Malaysia. Cũng như trong lễ hội Thaipusam, những người mộ đạo đội “Kavadis” bày tỏ lòng tôn kính của họ tới thần Subranamia và thực hiện những lời hứa: bố thí thức ăn cho số đông những người nghèo. Đến đêm có một đám rướt xe ngựa bốn bánh.

    - Adi – Amma Vasai và Mahalya Ammavasai: diễn ra vào tháng Adi (tháng 8) và tháng Para Hasi (tháng 9). Tất cả mọi người Hindu đều thành tâm dâng “nước và hạt giống Gingelly” cho những người đã khuất và phân phát thức ăn cho người nghèo, trẻ mồ côi. Những người Hindu nào không thể về được trong những ngày giỗ của người thân trong gia đình thì có thể thực hiện nhiệm vụ của mình trong hai ngày này.

    - Tiru –Oman: Lễ hội này có ý nghĩa đặc biệt với người Hindu Malaysia đến từ Kerala, họ nói tiếng Malayalam. Lễ hội được tổ chức trong suốt tháng Adi của người Tamil (tháng 8). Nó đánh dấu lần nhập thể thứ 5 thành Vanama của Vishnu. Trong ngày này, Vishnu được cho rằng đã khắc lên mình hình thể của đấng tối cao và đã vượt qua 3 thế giới: trời, đất và địa ngục bằng những bước chân của mình.

    Người Hindu mừng lễ với những điệu nhạc, các bài hát và những ngọn đèn sáng.

    Trong những tháng 9, tháng 10 còn có lễ Navaratri dành cho việc thờ cúng nữ thần Shakti, có ý nghĩa quan trọng đối với phụ nữ; tháng 11,12 là lễ Annamalai Kartikar, thể hiện quyền uy tối cao qua hình ảnh cột đèn trên đỉnh đồi AnnaMalai; và lễ Vaikunda Ekadar trong đó Vaikunda có nghĩa là chỗ ở của thần Vishnu và Ekadar có nghĩa là ngày thứ 10... 

    Mỗi giáo phái Hindu đều có những hoạt động riêng của mình.     

      Ø  Âm nhạc nghệ thuật:

    Múa:

    Có thể nói vũ điệu Ấn Độ ở Malaysia được những người Ấn mang theo hành trang của mình nhập cư vào đất nước này cách đây hàng ngàn năm.

    Hiện nay ở Malaysia vẫn còn nhiều những nghệ sĩ gốc Ấn giỏi bộ môn nghệ thuật múa, và điều này đã là một sự cổ vũ, khích lệ lớn đối với những người địa phương đầy mong mỏi, khát khao được gìn giữ bản sắc văn hoá truyền thống của cộng đồng thông qua nhiều biểu hiện trên các khía cạnh văn hoá mà múa được xem là một bộ môn nghệ thuật lâu đời và có sức quyến rũ lớn.

    Các điệu múa Ấn Độ đã có một sự biến đổi nhỏ theo thời gian và những diễn viên múa ngày nay vẫn còn theo những cách thức cổ xưa. Kiểu múa này gắn liền với điệu bộ, hành động. Có lẽ đầu tiên nó là những màn kịch Ấn Độ, sau đó phát triển thành múa lễ hội có kèm theo diễn kịch.

    Bản thân nó là một môn nghệ thuật phức tạp và có sức quyến rũ lớn không chỉ ởû cử động cánh tay, bàn chân mà toàn thân cũng phải di chuyển theo. Sự điều khiển tuyệt vời của thân người là cần thiết, như sự cử động của bàn tay hay chân mày là nhằm mục đích làm cho câu chuyện được bộc lộ. Theo thống kê có khoảng 36 điệu bộ của mắt, 37 cử động của tay trong hàng trăm điệu bộ (Mudra). Mỗi một điệu bộ có thể diễn tả được một cảm xúc. Ví dụ có thể biểu thị thành các con vật, các vị thánh thần, những hành động, cảnh vật … Do vậy một diễn viên múa hàng đầu phải trải qua rất nhiều năm khổ luyện.

    Âm nhạc:

    Cũng như bộ môn múa, âm nhạc Ấn Độ đã vượt qua thử thách khắc nghiệt của thời gian và không gian bảo lưu được những giá trị truyền thống trong lĩnh vực nghệ thuật này.

    Thang âm cơ bản có 7 nốt gần tương ứng với các nốt trong thang âm chính của phương Tây. Những nốt nhạc này được soạn thảo khá công phu thành những âm ½  và ¼. Chính các âm ¼ khi ngân lên trong giai điệu, thường gây cho các thính giả phương Tây ấn tượng là nhạc cụ đang chơi hay ca sĩ đang hát đó biểu diễn sai, lạc điệu, nhưng chính điều này đã mang lại cho nhạc Ấn một sắc thái riêng có.

    Ngoài thang âm cơ bản, trong âm nhạc truyền thống của cộng đồng người Ấn còn có các làn điệu đặc biệt khác, trong đó làn điệu thịnh hành nhất là Raga. Raga là một chuỗi gồm ít nhất 5 nốt nhạc tạo nền cho một giai  điệu. Ngày nay có hàng trăm điệu Raga, xong những thư tịch xưa nhất về âm nhạc Ấn Độ ghi nhận có 6 làn điệu Raga gốc. Có những làn điệu Raga được xem là phù hợp với từng thời điểm nhất định trong ngày.

    Âm nhạc Ấn không có sự hài hoà, do đó “các nốùt uyển chuyển” giữ vai trò rất quan trọng khi chúng nhấn mạnh một khoảnh khắc này ngược với khoảnh khắc khác. Một trong những công cụ phổ biến nhất để làm như vậy là “luyến ngắt”. Khi trình bày trên đàn violon, danh tiếng của người biểu diễn chủ yếu được đánh giá qua kỹ năng người ấy sử dụng những “ngón nghề” trên như thế nào. Làn điệu âm nhạc Ấn được kéo dài bởi trống và kèn túi. Nhịp điệu trái ngược nhau là nét đặc sắc của giai điệu này. Ca sĩ và người chơi trống sẽ tìm cách tập trung vào một điểm, chẳng hạn cứ ca sĩ hát 7 nhịp trong 10 đơn vị, thì người chơi trống sẽ đánh 10 nhịp trong 7 đơn vị. Chính sự tập trung biểu diễn một cách đầy nghệ thuật và khéo léo này là điều khán giả sẽ đánh giá cao và chờ đợi. Nhạc sĩ Ấn, phần lớn là người biểu diễn ứng tác, vì vậy mỗi bài trình diễn của họ gần như là bản nhạc mới hoàn toàn.

    Những nhạc cụ chính gồm sáo Vina, đàn Sita – có thể sánh với đàn ghi ta, đàn Sarangi– một loại violon đơn giản, và kèn Surnai – thuộc kèn oboa. Ngoài ra có rất nhiều loại sáo và các nhạc cụ hơi khác; và một loại trống cồng chiêng, cũng như các loại nhạc cụ gõ.

    Ø  Tôn giáo – Tín ngưỡng:

    Người Hindu sùng kính đấng tối cao qua nhiều biểu hiện: nam và nữ, nhân từ và huỷ diệt. Người Hindu thờ 3 vị thần: Brahma – thần sáng tạo, Vishnu – thần bảo vệ và Shiva – thần huỷ diệt. Mỗi vị thần đều mang trong mình những khía cạnh tiêu cực và tích cực.

    Thần Shiva cưỡi bò là một trong những vị thần quan trọng, cùng với vợ ngài là Durga cưỡi cọp. Đôi vợ chồng oai nghiêm này tượng trưng cho cho sự sáng tạo, bảo vệ và huỷ diệt – cho sự sống và cái chết. Các ngôi đền Hindu thờ một hoặc nhiều vị thần chính, nhưng bên cạnh đó còn có hàng chục, thậm chí hàng trăm vị thần nhỏ và các nữ thần; được đặt để một cách trang trọng trong các điện thờ xưa.

    Kinh của người Hindu là kinh Vệ Đà (Vedas) ghi chép lại kinh nghiệm của người xưa, giải thích về những bí mật của cuộc sống. Qua những truyện ngụ ngôn dễ hiểu đối với giới bình dân, kinh Vệ Đà còn có thể được đọc và hiểu ở những trình độ triết học trừu tượng cao nhất.

    Gia đình người Hindu thường có một bàn thờ nhỏ - họ luôn thấp đèn dầu và cúng hoa quả trên bàn thờ.

    Về vị trí ngôi đền trong cộng đồng người Ấn. Mọi gia đình và cá nhân người Hindu đều có thể ghé vào các ngôi đền bất kỳ lúc nào, tuy nhiên các buổi tập trung tụng kinh thường được cử hành vào thứ 6 hàng tuần. Ngày xưa ngôi đền là nơi duy nhất người phụ nữ trẻ được phép đến khi ra khỏi nhà, và thậm chí lúc bấy giờ còn có người đi theo canh chừng cẩn thận.

    Người Hindu không được phép ăn thịt bò nhưng các sản phẩm từ sữa là một phần quan trọng trong thực phẩm của người Hindu. Khoảng 10% người Ấn ở Malaysia ăn chay trường, một số người thậm chí còn không ăn trứng bởi vì theo quan niệm của họ trứng chứa trong đó một sinh linh sống. Nhiều người khác ăn chay vào thứ 6, những ngày đi đền theo tập quán, và vào các lễ hội tôn giáo. Người Hindu tin vào sự đầu thai của linh hồn con người. Quan điểm bất di bất dịch của họ về các hình thức cao, thấp trong cuộc sống đều được phản ánh qua hệ thống đẳng cấp vẫn còn duy trì ở Ấn Độ, nhưng ở Malaysia những khía cạnh khắc khe này đã mờ nhạt đi nhiều.

    Trong tâm thức của cộng đồng Ấn Độ, người ta vẫn tin vào luật nhân quả rằng người nào sống không tội lỗi trên trần gian khi mất đi sẽ được đầu thai thành người tốt và khôn ngoan; kẻ ác tâm sẽ đầu thai sống kiếp ếch nhái.

    Để có một kết luận khoa học khách quan về ảnh hưởng của Ấn Độ giáo nói riêng và cộng đồng người Ấn nói chung trong sự phát triển của đất nước Malaysia qua nhiều thế kỷ chia cắt và hợp nhất, báo cáo khoa học chỉ xin được giới thiệu khái quát các tôn giáo phổ biến của cộng đồng người Ấn nơi đây qua lăng kính lịch sử: nêu quá trình hình thành và những giao lưu tiếp xúc với văn hoá bản địa mà không đi sâu trình bày các hoạt động tôn giáo.

    - Hindu giáo (Ấn Độ giáo)

                Từ xa xưa cư dân sống trên bán đảo Malay đã chịu ảnh hưởng của nền văn minh Ấn Độ. Cho đến nay nhiều yếu tố văn hoá cổ và trung cổ Ấn Độ vẫn còn tồn tại và dung hoà trong nền văn hoá của người Malay bản địa. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân  Ấn Độ giáo bị tan rã nhường chỗ cho những yếu tố văn hoá mới của thế giới Hồi giáo Ả Rập đến thay thế. Hiện nay, Ấn Độ giáo chỉ còn phát triển trong khu vực cư dân có nguồn gốc Ấn Độ đến làm ăn sinh sống ở Malaysia từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Theo ước tính thì có khoảng 9,4% dân số toàn Liên bang theo tôn giáo Ấn Độ giáo. Phần lớn những người này sống ở bờ biển phía Tây của bán đảo Malacca. Những người theo Ấn Độ giáo ở Malaysia đều có nguồn gốc từ miền Nam Ấn Độ, nơi Shiva giáo rất thịnh hành. Giáo phái này rất phù hợp với những cư dân nông nghiệp. Ở Malaysia biểu tượng Linga (dương tính) và Kasati (âm tính) liên quan đến các lễ nghi nông nghiệp vốn đã rất thịnh hành, nên Shiva giáo dễ dàng được chấp nhận và phát triển trong môi trường mới này. Nhiều đền đài Shiva giáo được xây dựng ở Malaysia từ thế kỷ trước đến nay vẫn được giữ gìn, sửa sang. Một số đền đài được xây dựng mới, nhờ sự nguyên góp của các tín đồ, trong đó có  thể kể đến một số đền thờ dành cho các ẩn sĩ. Nhiều nơi các tín đồ Ấn Độ giáo đã sử dụng các hang động tự nhiên làm nơi thờ phụng, trong đó có một cái hang ở ngoại ô Kualar Lumpur. Trong các lễ hội tôn giáo các tín đồ Ấn Độ giáo thường tổ chức những đám rước vui vẻ. Từ thế kỷ 20 một số thị dân và trí thức Ấn Độ giáo đã phát triển trường phái Ấn Độ giáo cách tân và tổ chức các Hội của những người theo Ấn Độ giáo. Hội “Aria Samada” là một minh chứng về việc thành lập các Hội tôn giáo Ấn giáo mới ở Malaysia. Nhiều nhà nghiên cứu lịch sử phương Đông cho rằng Ấn Độ giáo không gây ảnh hưởng lớn đến nền văn hoá truyền thống ở nông thôn Malaysia ngay cả vào thời hưng thịnh nhất của tôn giáo này. Thực tế thì tầng lớp tu sĩ của Ấn Độ giáo đã đóng vai trò rất lớn ở Malaysia trong một giai đoạn lịch sử nhất định góp phần vào quá trình “Ấn Độ hoá” khu vực này. Các giáo sĩ Bàlamôn đã từng là những nhà tiên tri, những vị cố vấn của nhà vua, là nhà thơ trong cung đình, là các nhà chiêm tinh,  quan tòa tối cao và có uy tín rất lớn trong việc giải quyết các vấn đề có liên quan đến tôn giáo. Họ là những người điều hành và gìn giữ những truyền thống thiêng liêng của cung đình. Các tầng giới tăng lữ, quý tộc trong hệ thống đẳng cấp Bàlamôn giáo cũng đã từng kiểm soát toàn bộ dân chúng thông qua việc tuyên bố họ là những người có nguồn gốc cao quí, là đại diện của thần Shiva trên trần thế v.v. vì thế nên ngày nay mặc dù người Malay không còn là tín đồ Ấn Độ giáo, song những tàn dư của lớp tôn giáo này vẫn còn đọng lại và âm vang trong các tín ngưỡng dân gian, những tập tục lễ nghi của địa phương. Những tàn dư của Ấn Độ giáo là những dấu tích chính của các truyền thống xưa vẫn còn tồn tại dai dẳng sau khi người Malay đã cải đạo theo Hồi giáo. Trong hệ thống các thần linh của tín ngưỡng vật linh ở Malaysia có nhiều vị thần được vay mượn từ các thần của Ấn Độ giáo, mặc dù những người nông dân Malaysia không có sự hiểu biết hàn lâm hệ thống thần linh của Ấn Độ. Trong các bài khấn và niệm chú của các Pawang và Bomoh người ta có thể nghe thấy tên một số vị thần Ấn Độ giáo, song thực tế những tên này lại ám chỉ thánh Allah hoặc các thần (Jin) có nguồn gốc Hồi giáo. Nhiều từ có nguồn gốc Sanskrit được người Malaysia sử dụng để chỉ tên các vị thần linh của mình như từ badi (linh hồn) và Nyawa (sự sống) hay Hantu (Ma). Thuật ngữ Mantera là phép niệm chú được người Ấn Độ sử dụng như một ngôn ngữ riêng, là phương tiện giao tiếp giữa thần linh với người cầu khấn. Mantera của người Malay cũng dùng để chỉ phép niệm chú của các thầy Pawang và Bomoh, theo Winstedt thì nó chứa đựng nhiều đặc tính của phép niệm chú Bàlamôn giáo. Ví dụ trong câu niệm chú của người Malay có từ “Om”.  Từ này xuất phát từ “AUM” biểu hiện bộ ba thần trong Ấn Độ giáo: Brahma, Visnu và Shiva. Tất nhiên, khi sử dụng “Om” người Malay không có ý hướng về ba vị thần trên mà chỉ dùng như một từ riêng có tính chất công thức trong câu khấn mà thôi. Nhiều tên của các vị thần Ấn Độ giáo được đưa vào các câu khấn của người Malay: “Patala Guru” có nguyên gốc là “Batara Guru” hay Pawang Berima chính là thần Brahma hay Si-lang juna là thần Ar Yuna. Có điều những cái tên Ấn Độ này đã được bản địa hoá bằng cách gắn thêm những tên gọi Malay “Pawang” hay “Si-lang”. Không chỉ có ở trong ngôn từ, khi nghiên cứu những nghi lễ dân gian của người Malay người ta cũng thấy chúng có nguồn gốc từ những nghi lễ của Ấn Độ. Ví dụ ở người Malay sống trên bờ biển phía Đông có nghi lễ Puja Patai- là nghi lễ của các ngư dân xuất phát từ nghi lễ của Ấn Độ giáo. Puja hay Pajana có nghĩa là Thờ thần. Những ví dụ trên đây cho thấy dù Ấn Độ giáo hiện nay không còn thịnh hành ở Malaysia nữa, song nó đã có ảnh hưởng sâu sắc đến các tập tục, lễ nghi truyền thống của Malaysia. Những yếu tố của Ấn Độ giáo đã hoà nhập vào các tín ngưỡng dân gian, đặc biệt là tín ngưỡng thờ thần linh của Malaysia và góp phần lưu giữ những ảnh hưởng văn hoá của Ấn Độ trên miền đất này.

    - Đạo Sikh:

    Đạo Sikh là một nhánh của đạo Hindu, do một học giả – quân nhân, Guru Nanak bang Punjab khởi xướng từ thế kỷ 15. Ông đã bãi bỏ hệ thống đẳng cấp, tạo nên một bang kỷ luật hùng mạnh ở Punjab, chống lại sự xâm chiếm của Công Ty Đông Ấn vào thế kỷ  XVIII và vị Guru thứ 10 – Gobird Singh. Đạo Sikh ra luật qui định: đàn ông Sikh phải che mái tóc không cắt bằng khăn xếp, đeo vòng thép, mang lược và kiếm. Hầu như tất cả người Sikh, dù tóc dài hay ngắn đều có vòng thép trên cánh tay phải và đội khăn xếp.

    Tín đồ đạo Sikh ở Malaysia chỉ có khoảng 20 – 25 ngàn người. Phần lớn có nguồn gốc Nam Á. Họ là những thị dân, những người đại diện cho giới trí thức, những thương gia, viên chức hoặc những công nhân lành nghề. Tuy số lượng không đông, nhưng những người theo đạo Sikh vẫn duy trì hoạt động sinh hoạt tôn giáo diễn ra ở những đền thờ. Đạo Sikh Malaysia cũng bao gồm các môn phái khác nhau, đặc biệt là môn phái Nandhari. Tín đồ của môn phái này luôn luôn mặc quần áo trắng, quấn khăn trắng tạo nên một nét đặc trưng nhất định về cộng đồng dân tộc - tôn giáo người Sikh - đạo Sikh ở Malaysia. Tuy nhiên, đạo Sikh không gây được ảnh hưởng đáng kể trong xã hội Malaysia xét trên các khía cạnh tôn giáo, chính trị, văn hoá.

    Những đặc trưng văn hoá của cộng đồng người Ấn ở Malaysia trên đây hoà quyện nhưng không hoà tan vào nền văn hoá đa sắc màu của quốc gia đa tộc Malaysia. Ngoài những đặc điểm văn hoá trên như những tiêu chí xác định truyền thống văn hoá của cộng đồng người Ấn ở Malaysia nói riêng và cộng đồng người Ấn ở các nước Đông Nam Á nói chung, văn hoá Ấn Độ đã có dấu ấn sâu đậm trong lòng văn hoá Malay trước khi Malacca cải đạo chuyển sang Islam giáo vào thế kỷ 15.

    Ở một quốc gia đa tộc như Malaysia, từ văn hoá vật chất đến văn hoá xã hội và văn hoá tinh thần hay còn gọi là văn hoá vật thể và phi vật thể, bên cạnh một số điểm chung nhất định, mỗi cộng đồng đều có những nét đặc sắc riêng, làm cộng đồng này khác và không thể lẫn được với cộng đồng kia. Trên phương diện trang phục, người Ấn nổi tiếng với chiếc Sari rất thanh lịch và tinh tế của phụ nữ.

    Trên phương diện hôn nhân gia đình, thì ba điều không thể thiếu trong đám cưới của người Ấn là phải có người đứng ra làm mai, hai gia đình phải cùng đẳng cấp, và trong hôn lễ phải có các nhà sư tụng kinh.

    Trên phương diện thai nghén, sinh nở: cùng với cộng đồng người Malay và cộng đồng người Hoa, người Ấn xem việc sinh nở là một việc thiêng liêng trọng đại và không kém phần huyền bí, do đó người mẹ và đứa bé – trước và sau khi ra đời- được chăm sóc rất kỹ càng, nghiêm ngặt theo tập tục truyền thống của mỗi cộng đồng.

    Trên phương diện giáo dục trẻ con thời niên thiếu, đối với người Ấn, sự kiện đáng chú ý là lễ mừng con gái trưởng thành được tổ chức trang trọng, ấm cúng.

    Trên phương diện ma chay, nghi thức ma chay của người Ấn cũng ngắn gọn như người Malay tuy nhiên có một số điểm đáng lưu ý là: thường hoả táng, phụ nữ và trẻ con không được dự lễ này và sau khi đưa quan tài ra khỏi nhà, người quá phụ không bao giờ được phép đeo nữ trang nữa.

    Trên phương diện lễ hội, không phải quá lời khi nói rằng Malaysia là một đất nước của lễ hội. Nếu như người Malay nổi tiếng về các lễ hội Hari Raya Haji, Hari Raya Puasa, lễ Maulud Nabi, Israk, Mikraj, lễ hội Nurul Quran… thì khi nói đến người Hoa người ta nói đến Tết Nguyên Đán, lễ sinh nhật Ngọc Hoàng (mồng 9 tháng giêng), lễ Chap Goh Mei (Rằm tháng giêng), lễ Ching minh (Thanh Minh), lễ hội thuyền rồng, lễ zhong yuan (lễ cúng cô hồn), lễ Zhong Qui (Trung thu), lễ đưa ông táo về trời… Trong khi đó, người Ấn cũng không thiếu những lễ hội độc đáo như: lễ Deepavali (lễ hội đèn), lễ Thaiponggal, lễ Thaipusam, lễ Maha Shiva – ratri, lễ Uttiram, lễ Puttandu…

    (Phan Thị Hồng Xuân)


    Nhắn tin cho tác giả
    Trần Thục Hiền @ 10:33 03/07/2010
    Số lượt xem: 2712
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến