CHÚC MỪNG NĂM MỚI

KÍNH CHÚC QUÝ THẦY CÔ

MẤY GIỜ RỒI NHỈ

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    0 khách và 0 thành viên

    Tài nguyên dạy học

    Hỗ trợ trực tuyến

    • (Trần Thục Hiền)
    • (Hoàng Minh Phương)

    Điều tra ý kiến

    Bạn thấy trang này như thế nào?
    Đẹp
    Đơn điệu
    Bình thường
    Ý kiến khác

    CẢNH ĐẸP

    ĐỌC BÁO ONLINE

    Ảnh ngẫu nhiên

    Uoc_mo_cua_Rachel_PhotographersMicrosoft_2009.jpg Kenh_dao_PaNaMa.flv Nguyennhadongdat.flv Presentation1_2.flv Presentation1.flv VietnamBDKH.flv CUUNON_CHUC_TET.swf TruongChiMinuong.swf 5nghuyen_nhan_thuy_trieu.flv 2chuyen_dong_cua_he_mat_troi.flv CAY_BONG_HONG_TANG_CO.swf Lua_doi92.swf Xuatkhau.flv Tietkiemnoicongso.flv Tuyentruyenvetietkiem.flv Bongdentietkiem.flv Nhuongmeotietkiem.flv Giaiphapnangluongsach.flv EmoiHN_PHO.swf Loi_cam_on_sn_2013.swf

    Hôm nay tôi...

    Ngày hôm nay, tôi sẽ tin rằng mình là người đặc biệt, một người quan trọng. Tôi sẽ yêu quý bản thân tôi với chính những gì tôi có và không so sánh mình với những người khác.
    Ngày hôm nay, tôi sẽ tự lắng lòng mình và cố gắng trầm tĩnh hơn. Tôi sẽ học cách kiểm soát những cảm xúc và suy nghĩ của mình.
    Ngày hôm nay, tôi sẽ học cách tha thứ những gì người khác đã gây ra cho tôi, bởi tôi luôn nhìn vào hướng tốt và tin vào sự công bằng của cuộc sống.
    Ngày hôm nay, tôi sẽ cẩn trọng hơn với từng lời nói của mình. Tôi sẽ lựa chọn ngôn từ và diễn đạt chúng một cách có suy nghĩ và chân thành nhất.
    Ngày hôm nay, tôi sẽ tìm cách sẻ chia với những người bạn quanh tôi khi cần thiết, bởi tôi biết điều quý nhất đối với con người là sự quan tâm lẫn nhau.
    Ngày hôm nay, trong cách ứng xử, tôi sẽ đặt mình vào vị trí của người đối diện để lắng nghe những cảm xúc của họ, để hiểu rằng những điều làm tôi tổn thương cũng có thể làm tổn thương đến họ.
    Ngày hôm nay, tôi sẽ an ủi và động viên những ai đang nản lòng. Một cái siết tay, một nụ cười, một lời nói của tôi có thể tiếp thêm sức mạnh để họ vững tin bước tiếp.
    Ngày hôm nay, tôi sẽ dành một chút thời gian để quan tâm đến bản thân mình. Tôi sẽ làm tâm hồn và trí óc mình phong phú, mạnh mẽ hơn bằng cách học một cái gì đó có ích, đọc một cuốn sách hay, vận động cơ thể và ăn mặc ưa nhìn hơn.
    Ngày hôm nay, tôi sẽ có một danh sách những việc cần làm. Tôi sẽ nỗ lực nhất để thực hiện chúng và tránh đưa ra những quyết định vội vã hay thiếu kiên quyết.
    Ngày hôm nay, tôi sẽ bỏ lại phía sau mọi lo âu, cay đắng và thất bại, khởi đầu một ngày mới với một trái tim yêu thương và hồn nhiên nhất. Tôi sẽ sống với những khát khao, mơ ước mà mình luôn ấp ủ.
    Ngày hôm nay, tôi sẽ thách thức mọi trở ngại trên con đường mà tôi lựa chọn và đặt niềm tin. Tôi hiểu rằng, khó khăn là một phần của cuộc sống và chúng tồn tại là để tôi chinh phục và vượt qua.
    Ngày hôm nay, tôi sẽ sống hạnh phúc. Tôi sẽ trải rộng lòng để cảm nhận cái đẹp trong cuộc sống, để yêu thương và tin tưởng những người tôi yêu quý, và những người thương yêu tôi. Tôi sẽ làm những việc khiến tôi cảm thấy hạnh phúc: xem một bộ phim hài, làm một việc tử tế, giúp đỡ một ai đó, gửi một chiếc thiệp điện tử, nghe một bản nhạc yêu thích...
    Và hôm nay, ngay bây giờ, tôi cảm nhận được hạnh phúc và sức sống mới để bắt đầu một ngày mới thật có ích - bất kể ngày hôm qua như thế nào. Bạn cũng vậy nhé! Hãy nhớ rằng: Gieo suy nghĩ, bạn sẽ gặt hành vi. Gieo hành vi, gặt tính cách. Và gieo tính cách, bạn gặt số phận. Hãy gieo cho mình những suy nghĩ tích cực mỗi ngày để bạn có một tinh thần trong lành, mạnh mẽ. Hãy đọc trang này mỗi ngày như câu thần chú cho sức mạnh nội tại của bạn. Và bạn sẽ ngạc nhiên vì những kết quả bạn nhận được. Chúc bạn có một ngày hữu ích và tràn đầy những niềm vui, sự yêu thương – Trần Thục Hiền

    NGÔI NHÀ VIOLET

    THỜI TIẾT HÔM NAY

    Lấy code

    Chức năng chính 1

    Chức năng chính 2

    Hôm nay nhé!

    Chào mừng quý vị đến với Website Địa lý & Cuộc sống của Trần Thục Hiền.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > BẠN CÓ BIẾT > Những ngày ghi nhớ >

    Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ý nghĩa lịch sử và giá trị thời đại

    Hoàng Ngọc Vĩnh, ĐHKH Huế

    Sau Cách mạng Tháng Mười Nga, trước Cách mạng tháng Tám 1945 của Việt Nam, cho dù đã có Luận cương của Lênin “về vấn đề dân tộc và dân tộc thuộc địa”, thì nhân loại vẫn mới chỉ ít nhiều xác nhận khái niệm quốc gia (dân tộc) qua các đường biên giới tự nhiên là chóp núi, dòng sông, mỏm đá,.. Các “cường quốc” đế quốc vẫn là tất yếu “thực dân” một cách hợp pháp đối với các nước nhỏ và yếu. Kết cục của các cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918), và lần thứ hai (1939-1945) cho thấy một thế giới vẫn còn chia năm xẻ bảy bởi chiến tranh xâm lược của đế quốc, thân phận con người sẽ còn trở nên vô nghĩa nếu không có một nền công pháp quốc tế bảo vệ nhân loại và hạnh phúc cho con người. Những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Têhêrăng[1] và Cựu Kim Sơn[2] trước đó đối với các nước mạnh đã không có hiệu lực, mà chỉ còn là thứ chiêu bài dễ quên của quá khứ.

    Trong mấy ngàn năm trước ấy, Việt Nam  đã có một bề dày lịch sử chống ngoại xâm hào hùng với một ý thức quốc gia độc lập có chủ quyền thuộc loại vững chắc nhất thế giới, nhưng trước mùa thu 1945 Việt Nam đã lại bị xóa tên trên bản đồ thế giới, và nhân loại chỉ biết đến một An Nam nghèo, rất kém phát triển với hoàn cảnh hơn 2 triệu người chết đói (dân số Việt Nam lúc này mới chỉ 22 triệu người).

    Ý thức về một quốc gia độc lập có chủ quyền thuộc loại vững chắc nhất thế giới của Việt Nam có các đặc trưng cơ bản là: Một dân tộc yêu hòa bình, ghét chiến tranh; Có lòng nhân ái cao cả; Bất khuất chống giặc ngoại xâm quyết vì độc lập dân tộc; Lao động cần cù và lao động sáng tạo; Có sự cố kết cộng đồng dân tộc cao. Tuy nhiên, các lãnh tụ của Việt Nam trong lịch sử mới chỉ thực hiện được một nội dung “nước độc lập”. Chủ tịch Hồ Chí Minh mới là người đầu tiên của lịch sử Việt Nam đã thống nhất hai nội dung “nước độc lập” và “dân tự do, hạnh phúc”. Chế độ mới này được khai sinh bởi bản Tuyên ngôn Độc lập[3] của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lịch sử, do chính Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại soạn thảo và công bố.

     

    Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Hồ Chủ tịch từ Tân Trào về Thủ đô Hà Nội và sống tại căn nhà số 48 Hàng Ngang. Tại đây, vào sáng ngày 26 tháng 8 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì cuộc họp với thường vụ Trung ương Đảng chuẩn bị ra Tuyên ngôn Độc lập và tổ chức mít tinh lớn ở Hà Nội để chính phủ ra mắt nhân dân, chính thức công bố quyền độc lập và thiết lập chính thể Dân chủ Cộng hoà ở Việt Nam.

    Ngày 30 tháng 8 năm 1945, Hồ Chủ tịch mời một số đồng chí ở Trung ương đến để trao đổi, góp ý kiến cho bản dự thảo Tuyên ngôn Độc lập. Ngày 31 tháng 8 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh bổ sung một số điểm vào bản thảo Tuyên ngôn Độc lập. Đúng 14 giờ ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại vườn hoa Ba Đình, trước hàng chục vạn đồng bào Thủ đô, trên diễn đàn cao và trang nghiêm, thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước đồng bào cả nước và nhân dân thế giới việc thủ tiêu chế độ thực dân và phong kiến ở Việt Nam, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

    Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời trong một thời điểm trọng đại và phức tạp của lịch sử: Trọng đại là vì nó đã kết thúc 80 năm thống trị của thực dân Pháp, 5 năm đô hộ của phát xít Nhật, hàng nghìn năm của chế độ phong kiến ở Việt Nam, và khẳng định tính đúng đắn, khoa học của cách mạng Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo. Phức tạp là vì các lực lượng thù địch vẫn lăm le tái chiếm Việt Nam: ở miền Nam thực dân Pháp nấp sau lưng quân đội Anh đang tiến vào Đông Dương; ở miền Bắc quân đội Tưởng Giới Thạch, tay sai của đế quốc Mỹ, đã chực sẵn ở biên giới; kẻ thù ở trong nước được sự tiếp sức của thực dân Pháp đang tìm mọi cách ngóc đầu dậy.

    Kết tinh truyền thống lịch sử kiên cường bất khuất của dân tộc, Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là bản anh hùng ca mở đầu kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội của dân tộc Việt Nam. Bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là tác phẩm bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Nó là kết quả của tầm nhìn sâu rộng, của bao suy nghĩ trăn trở, và hơn cả là của một tấm lòng luôn luôn hướng về đất nước, về nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

    Bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được viết và hoàn thành trong một thời gian rất ngắn. Nhưng nhất định không phải đến khi Cách mạng tháng Tám thành công, Chính phủ lâm thời được thành lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh mới nghĩ đến việc soạn thảo và cho ra đời Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một văn bản chính luận hiện đại với hệ thống lý lẽ đanh thép và hệ thống dẫn chứng hùng hồn không thể chối cãi, có sức thuyết phục cao, phải là kết quả của cả một quá trình trăn trở, suy ngẫm trong hành trình tìm đường cứu nước của Người qua nhiều nước trên thế giới; là kết quả của thực tiễn lãnh đạo tài tình đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi của Người. Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thể hiện sự sáng suốt, nhạy bén và tầm nhìn chiến lược sâu rộng, khả năng dự báo thiên tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

    Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 của Việt Nam không chỉ mở ra một kỷ nguyên mới cho Việt Nam, mà còn là thắng lợi của cách mạng giành chính quyền chỉ diễn ra trong thời gian ngắn nhất, tổn thất nhỏ nhất, nhưng thành công lớn nhất, triệt để nhất trong lịch sử nhân loại. Điều này cho đến nay lịch sử nhân loại chưa một lần lặp lại và trong tương lai cũng khó đạt được.

    Có được thành quả to lớn ấy, công đầu phải thuộc về sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam, nhưng vai trò của Hồ Chủ tịch là không thể phủ nhận. Để có được thắng lợi vĩ đại ấy, Hồ Chủ tịch đã phải bôn ba năm châu bốn biển, đúc kết kinh nghiệm của cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới, lựa chọn con đường cách mạng vô sản duy nhất đúng cho dân tộc Việt Nam, sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1930; Đảng Cộng sản Việt Nam do Người trực tiếp rèn luyện đã lãnh đạo dân tộc thực hiện hai cuộc Tổng diễn tập 1930-1931 và 1936-1939 khắc phục khuynh hướng tả khuynh trong Đảng Cộng sản Việt Nam và phong trào cộng sản quốc tế thời ấy; Hồ Chủ tịch cũng đã trực tiếp lãnh đạo cuộc Diễn tập giành chính quyền ở Cao-Bắc-Lạng (1943-1944) mà dự đoán thiên tài “Đồng minh thắng, phát xít thua, Việt Nam nhất định độc lập”[4]. Người đã nắm chắc thời cơ và khi thời cơ chín muồi cũng chính Người đã “chớp lấy” thời cơ kịp thời nhất mà đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi vĩ đại “Cách mạng Tháng Tám năm 1945”.

    Bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một “áng thiên cổ hùng văn”. Thực ra, đây không phải là bản tuyên ngôn đầu tiên và duy nhất của Việt Nam. Trước đó, chúng ta đã từng được biết đến Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt, Hịch tướng sỹ của Trần Quốc Tuấn và Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi.

    Nhưng, như đã bàn ở trên, Nam quốc sơn hà mới chỉ khẳng định chủ quyền đất nước, và khẳng định quyết tâm đánh thắng bất kỳ kẻ thù nào nuôi ý định xâm lược đất nước Việt Nam của nhân dân ta. Hịch tướng sỹ là sự truyền bá nhiệt thành nhất đến nhân dân, tướng sỹ cả nước lòng căm thù giặc sâu sắc để khơi dậy lòng yêu nước quyết chiến đấu với quân thù vì độc lập dân tộc. Bình Ngô đại cáo là tuyên bố về sự toàn thắng của công cuộc kháng chiến trường kỳ và sự mở đầu của kỷ nguyên phục hưng đất nước. Cả ba bản “Tuyên ngôn” này đều mới chỉ dừng lại ở giá trị “nước phải độc lập”.

    Là người Việt Nam yêu nước, thương dân nhất, năm 1919 ở bản Yêu sách của nhân dân An Nam, ngay khi mới bước lên vũ đài chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đầu tiên của Việt Nam đã thống nhất hai nội dung “nước phải độc lập” và “dân phải tự do”. Trong Đường Kách mệnh và Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, Người đã nâng mục tiêu cách mạng ấy của mình lên trình độ mới bằng sự thống nhất hai nội dung “độc lập dân tộc” với “chủ nghĩa xã hội”. Từ Tuyên ngôn Độc lập của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đến các lời kêu gọi sau này, nhất là các lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bổ sung thêm quyết tâm cao nhất của dân tộc trong gìn giữ độc lập dân tộc, với kiên định hai mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Với Người, nước độc lập mà dân không được tự do hạnh phúc thì độc lấp ấy cũng không có ý nghĩa gì. Chính vì thống nhất hai mục tiêu “nước độc lập” và “dân phải tự do, hạnh phúc” mà Hồ Chủ tịch là người đầu tiên của nhân loại đã gương cao hai ngọn cờ “Độc lập dân tộc” và “Chủ nghĩa xã hội” trong thời đại ngày nay.

    Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, thay mặt cho toàn dân tộc Việt Nam, Người trịnh trọng tuyên bố với toàn thế giới: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc... Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”[5]. Sau này, trong các lời kêu gọi, đặc biệt là những lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, thì “Không có gì quý hơn độc lập tự do[6] là điểm xuất phát và là nội dung lớn nhất trong sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là chân lý sáng ngời thời đại do Người vạch ra mãi soi sáng cho cách mạng Việt Nam và cách mạng nhân loại.

    Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là kết quả của thực tiễn cách mạng nhân đạo cộng sản của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Năm 1911, do hấp dẫn bởi “tự do, bình đẳng, bác ái” của giai cấp tư sản, Người đã bôn ba năm châu, bốn biển tìm đường cứu nước ở phương Tây và dừng chân lâu nhất ở Pari của Pháp để trải nghiệm dân chủ tư sản. Năm 1919, nhân danh nhân dân Việt Nam, Người gửi đến Hội nghị Vec-xây, bản Yêu sách của nhân dân An Nam đòi hỏi quyền bình đẳng cho dân tộc Việt Nam. Ở đây, Người đã vạch trần hai chế độ pháp lý bất bình đẳng ở thuộc địa. Đặc biệt, Người đã gắn liền vấn đề độc lập dân tộc với các quyền tự do dân chủ của nhân dân mà đòi thực dân thực hiện bình đẳng về pháp lý cho dân tộc Việt Nam, đồng thời đòi thực dân trao trả quyền tự do tối thiểu cho nhân dân Việt Nam. Chính thực tiễn này đã cho Người câu trả lời: “Đâu đâu trên thế gian này cũng chỉ có hai hạng người, một hạng người áp bức bóc lột và một hạng người bị áp bức bóc lột. Đâu đâu trên thế gian này cũng chỉ có một sự thật là tình ái hữu giữa những người vô sản”[7]. Vì thế, Người đã từ bỏ dân chủ tư sản, đến với dân chủ vô sản không chỉ vì độc lập dân tộc mà chủ yếu vì hạnh phúc của nhân dân.

    Hồ Chí Minh yêu thương mọi đồng bào, đồng chí của mình, không phân biệt một ai, không trừ một ai, hễ là người Việt Nam yêu nước thì đều có chỗ trong tấm lòng nhân ái của Người. Người cũng dành tình yêu thương cho những người nô lệ mất nước và cùng khổ trên khắp thế gian. Tấm lòng nhân ái bao la của Người được đặt trên một cơ sở khoa học là chủ nghĩa Mác-Lênin. Người chỉ rõ nguồn gốc của mọi niềm đau nỗi khổ của con người nô lệ mất nước và con người cùng khổ là chủ nghĩa thực dân, đế quốc. Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin, Người đã chỉ rõ con đường giải phóng của con người Việt Nam, góp phần chỉ rõ con đường giải phóng của các dân tộc thuộc địa và của nhân dân lao động toàn thế giới.

    Người đã viết Bản án chế độ thực dân Pháp vào năm 1925 trên tinh thần luận tội kẻ thù đã xâm phạm quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của mỗi cá nhân con người và dân tộc, không chỉ ở Việt Nam, Đông Dương mà còn ở cả châu Phi, châu Mỹ Latinh.

    Tác phẩm Đường Kách mệnh của Người ra đời năm 1927 với sự lựa chọn con đường cách mạng vô sản cho Việt Nam, vì Người đã nhận thức được rằng cách mạng Mỹ và cách mạng Pháp đều không triệt để, cách mạng thắng lợi rồi mà công, nông vẫn bị áp bức. Chỉ có Cách mạng Tháng Mười Nga mới là cuộc cách mạng triệt để (nước Nga có chuyện lạ đời, là người nô lệ trở thành người tự do): “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa... Cách mệnh An Nam nên nhớ những điều ấy”[8]. “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam. Cách mệnh Nga đã đuổi được vua, tư bản, địa chủ rồi, lại ra sức cho công, nông các nước và dân bị áp bức các thuộc địa làm cách mệnh để đập đổ tất cả đế quốc chủ nghĩa và tư bản trong thế giới.”[9]. Hành trình cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là hành trình kiên định đấu tranh vì nền độc lập tự do, vì hạnh phúc của con người lao khổ trên toàn thế giới.

    Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tuyên bố quyền tự do của dân tộc, khẳng định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Bản tuyên ngôn đó không còn chỉ dành riêng cho dân tộc Việt Nam mà đó còn là sự cổ vũ, lời khẳng định thiêng liêng của tất cả các dân tộc trên thế giới, đặc biệt là các dân tộc kém và chưa phát triển. Tính dân tộc và tính thời đại được thể hiện rất rõ ràng và súc tích trong tư tưởng chủ đạo xuyên suốt của bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo và công bố là “Không có gì quý hơn độc lập tự do”.

    Trong phần đầu của bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Người trích dẫn hai bản tuyên ngôn nổi tiếng trong lịch sử nhân loại, “Tuyên ngôn độc lập 1776” của Mỹ và bản “Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền 1791” của Pháp, mà khẳng định nguyên tắc tự do, bình đẳng của dân tộc ta với mọi dân tộc trên thế giới. Sự kế thừa hết sức khéo léo, chặt chẽ của Người từ hai bản tuyên ngôn ấy, đã buộc đế quốc Pháp và đế quốc Mỹ thừa nhận về quyền con người và quyền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam nói riêng, của mọi dân tộc trên thế giới nói chung.

    Việc kế thừa hết sức tài tình hai bản tuyên ngôn ấy của Người đã làm cho Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và hai bản tuyên ngôn bất hủ ấy của nhân loại có cùng vị trí như nhau trên trường quốc tế. Vì thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là người đã thể hiện niềm tự hào, tự tôn dân tộc lớn nhất của Việt Nam. Người làm được vậy là vì Người chỉ có một ham muốn: “Ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, nhân dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”[10].

    Nâng quyền lợi con người thành quyền lợi dân tộc là một sáng tạo thiên tài của Hồ Chủ tịch, thể hiện tâm huyết lớn của Người dành cho dân tộc Việt Nam và các dân tộc trên thế giới. Một nhà văn hoá nước ngoài đã viết “Cống hiến nổi tiếng của Cụ Hồ Chí Minh là ở chỗ Người đã phát triển quyền lợi của con người thành quyền lợi của dân tộc. Như vậy tất cả mọi dân tộc đều có quyền tự quyết định lấy vận mệnh của mình”.

    Nếu trong hai tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp và Đây Công lý của thực dân Pháp ở Đông Dương, Người mô tả cảnh địa ngục trần gian tối tăm mà thực dân Pháp đang đày đọa dân ta. Tội ác ấy nào khác chi Nguyễn Trãi đã từng kết luận: “Tát cạn nước Đông hải không đủ rửa hết vết nhơ; Chặt hết trúc Nam sơn, chẳng đủ ghi hết tội ác”[11]. Hai tác phẩm này có mục đích vạch trần, tố cáo tội ác của thực dân Pháp trước dư luận thế giới và ngay cả trong nhân dân lương thiện Pháp, nhằm thức tỉnh cao độ tinh thần quật cường của đồng bào mình, đồng thời làm như vậy là vì Người tin vào sức mạnh của chính nghĩa và tiềm năng sức mạnh vô tận vô địch của nhân loại tiến bộ ủng hộ, giúp đỡ hiệu quả cho sự nghiệp đánh bại chủ nghĩa thực dân của dân tộc ta.

    Thì phần lớn nội dung của bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là nhằm tố cáo, vạch trần bản chất cướp nước, giả danh nhân đạo, lợi dụng lá cờ tự do bình đẳng, phi nhân, phi nghĩa trái với nhân đạo và chính nghĩa của thực dân Pháp: “Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do bình đẳng bác ái đến cướp nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa”. Người tố cáo Pháp đã hai lần bán rẻ nước ta cho Nhật, tố cáo tội ác tầy trời của thực dân Pháp “giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng...

    Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào...

    Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học...

    Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.

    Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.

    Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tuỷ, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều...

    Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn, trở nên bần cùng.

    Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn”[12].

    Cùng với hai tác phẩm trên, Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của Người không chỉ tố cáo vạch trần tội ác của chủ nghĩa thực dân trước công luân thế giới, mà còn có tác dụng giúp nhân loại phòng và chống thành công hiện tượng phản văn hóa nhất của thế kỷ XX là chủ nghĩa thực dân.

    Sau khi tố cáo những tội ác tầy trời của bọn thực dân và phong kiến tay sai, chỉ một câu “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị”[13], Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát được tất cả những biến động lớn nhất của Việt Nam ở nửa đầu thế kỷ XX, đặt dấu chấm hết cho các thể chế cũ, mở ra một thời đại mới với một thể chế chính trị mới của Việt Nam: Dân chủ Cộng hòa.

     Bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là kết quả của bao nhiêu máu đã đổ và bao nhiêu tính mạng đã hy sinh của đồng bào Việt Nam trong các nhà tù, trong các trại tập trung, trong những hải đảo xa xôi, trên các máy chém, trên các chiến trường; Là kết quả của bao nhiêu hy vọng, gắng sức và tin tưởng của hơn 20 triệu nhân dân Việt Nam; Là “tiếp nối bài thơ của Lý Thường Kiệt trên sông Như Nguyệt, “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi... thể hiện truyền thống bất khuất kiên cường của dân tộc Việt Nam trong công cuộc đấu tranh giành độc lập”[14]; Là kết quả của cuộc đấu tranh bất khuất vì độc lập của dân tộc Việt Nam, mà nếu mô tả nó thì “phải vẽ một thanh gươm và tô đậm một màu máu. Máu nhuộm đỏ ruộng nương nơi ta cầy cấy, máu nhuộm đỏ cầu ao nơi em ta giặt giũ hàng ngày, máu nhuộm đỏ mảnh sân nơi con ta nô đùa ngày bé. Dân tộc Việt Nam từ trong máu lửa mà đi lên, dân tộc ấy anh dũng biết nhường nào!”[15].

    Sự ra đời bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thực sự là một mốc son trong lịch sử của dân tộc Việt Nam. Tuyên ngôn Độc lập đã khẳng định những quyền dân tộc cơ bản của dân tộc Việt Nam và trở thành một cuộc đối thoại lớn có ý nghĩa lịch sử trọng đại: Tuyên bố với nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới về việc chấm dứt 80 năm đô hộ của thực dân Pháp và hàng nghìn năm phong kiến ở Việt Nam; Tuyên bố thành lập chế độ Dân chủ Cộng hoà, yêu cầu Quốc tế công nhận độc lập tự do của dân tộc Việt Nam; Khẳng định “Nước Việt Nam có quyền được hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập”; Thể hiện quyết tâm cao nhất của dân tộc trong đấu tranh giữ gìn độc lập dân tộc “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.  

    Ngay sau Lễ tuyên thệ của Chính phủ lâm thời do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo, Người nói: “Độc lập tự do là của quý báu, quý giá vô ngần, ta đã khổ sở trong bao nhiêu năm mới giành được, cần cố gắng giữ gìn, bảo vệ”.

    Ngay sau tuyên bố trịnh trọng với dân tộc và toàn thế giới về quyền bình đẳng thế giới của dân tộc, quyền mưu cầu tự do sung sướng của nhân dân và tuyên bố quyết tâm cao nhất của dân tộc Việt Nam để quyết giữ gìn độc lập tự do ấy, là những tuyên bố danh thép khác của Người: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”[16],  “Nước độc lập mà dân không tự do hạnh phúc thì độc lập ấy chẳng có nghĩa lý gì”, “Miền Nam là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam. Nam, Bắc là một nhà. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi”[17], “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”[18], “Dù có đốt cháy cả dãy Trường Sơn, thì cũng phải quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”[19], “Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm, hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố khác có thể bị tàn phá, thì chúng ta cũng phải quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”[20],.. đã khích lệ dân tộc Việt Nam đánh thắng các đế quốc to, hùng mạnh nhất thế giới và thời đại ở thế kỷ XX, giữ vững độc lập dân tộc và đang từng bước mang lại ngày càng nhiều các hạnh phúc to lớn cho nhân dân.

    Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là tác phẩm bất hủ của Hồ Chủ tịch, là bản anh hùng ca mở đầu kỷ nguyên mới Độc lập tự do và Chủ nghĩa xã hội của dân tộc. Ngày nay, Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đồng thời còn có giá trị đấu tranh bác bỏ những lý lẽ láo xược cùng âm mưu tái chiếm Việt Nam của các lực lượng thù địch, tranh thủ sự đồng tình rộng rãi của dư luận quốc tế vì một nước Việt Nam độc lập có chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ.

    Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã được thế giới coi như là Tuyên ngôn nhân quyền của các dân tộc thuộc địa trên toàn thế giới. “Đó là một đạo luật mới của nhân dân thế giới khẳng định quyền tự do, độc lập bất khả xâm phạm của các dân tộc bị áp bức”[21].

    “Thực tế, nó đã có ý nghĩa như phát súng lệnh khởi đầu cho bão táp cách mạng ở các thuộc địa, khởi đầu cho cuộc tấn công và làm sụp đổ hoàn toàn hệ thống chủ nghĩa thực dân trên toàn thế giới trong thế kỷ XX. Nhiều nước Á–Phi đã thừa nhận đóng góp to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào sự xác lập một nền công pháp quốc tế mới, một nền công pháp đảm bảo cho các quyền tự do, bình đẳng của con người và quyền tự quyết, quyền bình đẳng giữa các quốc gia, dân tộc trong việc lựa chọn con đường phát triển độc lập tự do về chính trị, kinh tế, văn hóa,.. của đất nước mình”[22].

    Ngày nay, khi nhân loại đã bước sang thiên niên kỷ thứ ba, nhưng tiếng súng chiến tranh vẫn không ngừng vang lên ở châu Phi, Trung Cận Đông, bán đảo Bancăng,.. mà trong đó không thể không có sự nhúng tay của đế quốc. Những siêu cường đế quốc vẫn xâm phạm quyền tồn tại và tự quyết của các dân tộc, vẫn ngang nhiên ném bom lên các đất nước gọi là “khó bảo” khác rồi bắt người ra toà án quốc tế, rêu rao những bài học nhân quyền cho các quốc gia khác.

    Trong bối cảnh ấy, những giá trị vạch thời đại và trường tồn của Tuyên ngôn Độc lập 1945 của Việt Nam: Thống nhất độc lập dân tộc với tự do, hạnh phúc của nhân dân là đồng thời giương cao hai ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; Thống nhất biện chứng quyền con người với quyền dân tộc, đặt cơ sở khoa học và nền móng pháp lý cho công cuộc xây dựng nhà nước của dân, do dân và vì dân; Xác lập nền văn hóa chính trị dân chủ mới – dân là gốc; Khẳng định và thể hiện quyết tâm cao nhất của mỗi dân tộc trong đấu tranh giữ gìn độc lập dân tộc;.. cùng với tinh thần đấu tranh không mệt mỏi và không khoan nhượng cho độc lập tự do của dân tộc và quyền sống, quyền hạnh phúc của con người của nhân dân và dân tộc Việt Nam mãi mãi không chỉ có ý nghĩa lịch sử, mà mãi mãi còn nguyên tính thời đại.



    [1] Hội nghị của đại diện ba nước Liên Xô (cũ), Anh, Mỹ họp từ 28 tháng 11 đến 1 tháng 12 năm 1943 tại Têhêrăng (Iran), đã thông qua kế hoạch tiêu diệt các lực lượng vũ trang của phát xít Đức, quyết định mở mặt trận thứ hai ở châu Âu trước 1 tháng 5 năm 1944 và thông qua Nghị quyết bảo đảm nền hòa bình lâu dài trên thế giới sau chiến tranh, v.v. Nhưng sau đó, các giới cầm quyền Mỹ và Anh đã bội ước các điều khoản đã được ký kết trong Hội nghị này.

    [2] Hội nghị của 50 nước do Liên Xô (cũ), Mỹ, Anh và Trung Quốc (CP Tưởng Giới Thạch) triệu tập họp tại Cựu Kim Sơn (Xan Phanxicô) ở Mỹ từ 25/4 đến 26/6 năm 1945 để thông qua Hiến chương Liên hợp quốc và thành lập tổ chức Liên hợp quốc. Hiến chương Liên hợp quốc đã được các nước thành viên tham dự – sau khi đấu tranh gay gắt – ký kết và có hiệu lực từ 24/10/1945.

    [3] Xem nguyên văn Bản Tuyên ngôn trong Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 3, trang  555-557; hoặc tập 4, trang 1-4.

    [4] Xem Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội 2000, tập 3, trang 211-212.

    [5] Xem Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 4, trang 1-4.

    [6] Sđd, tập 12, trang 109.

    [7] Xem Sđd, tập 1, trang XXVI và 266 “Vậy là, dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản”.

    [8] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội 2000, tập 2, trang 274.

    [9] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội 2000, tập 2, trang 280.

    [10] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội 2000, tập 4, trang 161.

    [11] Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi  toàn tập, Nxb KHXH, Hà Nội, 1976, tr 78.

    [12] Xem Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội 2000, tập 3, trang 555-556; tập 4, trang 1-2.

    [13] Xem Sđd, trang 3.

    [14] Xem Sổ tay tra cứu về cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb Hải Phòng, 1999, trang 205.

    [15] Ý của nhà văn Nguyễn Trung Thành trong bài “Việt Nam - Đường chúng ta đi”

    [16] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội 2000, tập 4 trang 161.

    [17] Xem Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, trang 246; tập 12, trang 516.

    [18] Xem Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, trang 480; tập 5, trang 767, tập 12, trang 516, 584.

    [19] Xem Hồ Chí Minh toàn tập, tập 11, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, trang 508; Chỉ từ 1965 đến 1969 Người đã nhắc cụm từ “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” khoảng 60 lần trong các Thư khen và các Lời kêu gọi (xem tập 11 và tập 12).

    [20] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 12, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, trang 108.

    [21] Đánh giá ý nghĩa quốc tế, ý nghĩa thời đại của Tuyên ngôn độc lập của nước ta, trong lễ trao bằng Tiến sĩ luật khoa danh dự cho Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1959, của ông Giám đốc Trường Đại học Tổng hợp Băng-Đung (Indonesia).


    Nhắn tin cho tác giả
    Hoàng Ngọc Vĩnh @ 00:12 23/09/2010
    Số lượt xem: 1522
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến