CHÚC MỪNG NĂM MỚI

KÍNH CHÚC QUÝ THẦY CÔ

MẤY GIỜ RỒI NHỈ

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    18 khách và 0 thành viên

    Tài nguyên dạy học

    Hỗ trợ trực tuyến

    • (Trần Thục Hiền)
    • (Hoàng Minh Phương)

    Điều tra ý kiến

    Bạn thấy trang này như thế nào?
    Đẹp
    Đơn điệu
    Bình thường
    Ý kiến khác

    CẢNH ĐẸP

    ĐỌC BÁO ONLINE

    Ảnh ngẫu nhiên

    Uoc_mo_cua_Rachel_PhotographersMicrosoft_2009.jpg Kenh_dao_PaNaMa.flv Nguyennhadongdat.flv Presentation1_2.flv Presentation1.flv VietnamBDKH.flv CUUNON_CHUC_TET.swf TruongChiMinuong.swf 5nghuyen_nhan_thuy_trieu.flv 2chuyen_dong_cua_he_mat_troi.flv CAY_BONG_HONG_TANG_CO.swf Lua_doi92.swf Xuatkhau.flv Tietkiemnoicongso.flv Tuyentruyenvetietkiem.flv Bongdentietkiem.flv Nhuongmeotietkiem.flv Giaiphapnangluongsach.flv

    Hôm nay tôi...

    Ngày hôm nay, tôi sẽ tin rằng mình là người đặc biệt, một người quan trọng. Tôi sẽ yêu quý bản thân tôi với chính những gì tôi có và không so sánh mình với những người khác.
    Ngày hôm nay, tôi sẽ tự lắng lòng mình và cố gắng trầm tĩnh hơn. Tôi sẽ học cách kiểm soát những cảm xúc và suy nghĩ của mình.
    Ngày hôm nay, tôi sẽ học cách tha thứ những gì người khác đã gây ra cho tôi, bởi tôi luôn nhìn vào hướng tốt và tin vào sự công bằng của cuộc sống.
    Ngày hôm nay, tôi sẽ cẩn trọng hơn với từng lời nói của mình. Tôi sẽ lựa chọn ngôn từ và diễn đạt chúng một cách có suy nghĩ và chân thành nhất.
    Ngày hôm nay, tôi sẽ tìm cách sẻ chia với những người bạn quanh tôi khi cần thiết, bởi tôi biết điều quý nhất đối với con người là sự quan tâm lẫn nhau.
    Ngày hôm nay, trong cách ứng xử, tôi sẽ đặt mình vào vị trí của người đối diện để lắng nghe những cảm xúc của họ, để hiểu rằng những điều làm tôi tổn thương cũng có thể làm tổn thương đến họ.
    Ngày hôm nay, tôi sẽ an ủi và động viên những ai đang nản lòng. Một cái siết tay, một nụ cười, một lời nói của tôi có thể tiếp thêm sức mạnh để họ vững tin bước tiếp.
    Ngày hôm nay, tôi sẽ dành một chút thời gian để quan tâm đến bản thân mình. Tôi sẽ làm tâm hồn và trí óc mình phong phú, mạnh mẽ hơn bằng cách học một cái gì đó có ích, đọc một cuốn sách hay, vận động cơ thể và ăn mặc ưa nhìn hơn.
    Ngày hôm nay, tôi sẽ có một danh sách những việc cần làm. Tôi sẽ nỗ lực nhất để thực hiện chúng và tránh đưa ra những quyết định vội vã hay thiếu kiên quyết.
    Ngày hôm nay, tôi sẽ bỏ lại phía sau mọi lo âu, cay đắng và thất bại, khởi đầu một ngày mới với một trái tim yêu thương và hồn nhiên nhất. Tôi sẽ sống với những khát khao, mơ ước mà mình luôn ấp ủ.
    Ngày hôm nay, tôi sẽ thách thức mọi trở ngại trên con đường mà tôi lựa chọn và đặt niềm tin. Tôi hiểu rằng, khó khăn là một phần của cuộc sống và chúng tồn tại là để tôi chinh phục và vượt qua.
    Ngày hôm nay, tôi sẽ sống hạnh phúc. Tôi sẽ trải rộng lòng để cảm nhận cái đẹp trong cuộc sống, để yêu thương và tin tưởng những người tôi yêu quý, và những người thương yêu tôi. Tôi sẽ làm những việc khiến tôi cảm thấy hạnh phúc: xem một bộ phim hài, làm một việc tử tế, giúp đỡ một ai đó, gửi một chiếc thiệp điện tử, nghe một bản nhạc yêu thích...
    Và hôm nay, ngay bây giờ, tôi cảm nhận được hạnh phúc và sức sống mới để bắt đầu một ngày mới thật có ích - bất kể ngày hôm qua như thế nào. Bạn cũng vậy nhé! Hãy nhớ rằng: Gieo suy nghĩ, bạn sẽ gặt hành vi. Gieo hành vi, gặt tính cách. Và gieo tính cách, bạn gặt số phận. Hãy gieo cho mình những suy nghĩ tích cực mỗi ngày để bạn có một tinh thần trong lành, mạnh mẽ. Hãy đọc trang này mỗi ngày như câu thần chú cho sức mạnh nội tại của bạn. Và bạn sẽ ngạc nhiên vì những kết quả bạn nhận được. Chúc bạn có một ngày hữu ích và tràn đầy những niềm vui, sự yêu thương – Trần Thục Hiền

    NGÔI NHÀ VIOLET

    THỜI TIẾT HÔM NAY

    Lấy code

    Chức năng chính 1

    Chức năng chính 2

    Hôm nay nhé!

    Chào mừng quý vị đến với Website Địa lý & Cuộc sống của Trần Thục Hiền.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > CÁC TỈNH THÀNH VIỆT NAM > Đồng bằng Sông Cửu Long >

    * Bến Tre: Tín ngưỡng - Tôn giáo

    + Tín ngưỡng:

    Ở Bến Tre, tín ngưỡng thờ phụng tổ tiên có thể nói hầu như diễn ra đều khắp, từ nơi thị tứ đến chốn làng quê hẻo lánh, từ miệt biển đến miệt đồng bưng hay miệt vườn. Nhìn chung cách cúng thờ ông bà, tổ tiên của đồng bào nơi đây không có gì khác biệt so với các vùng khác trong cả nước, bởi lẽ đều cùng một cội nguồn mà ra cả. Đó là đạo thờ ông bà của người Việt đã tồn tại qua thời gian hàng chục thế kỷ.

    Qua khảo sát nhiều nơi trong tỉnh, ta thấy mỗi gia đình đều có bàn thờ gia tiên.Có khác nhau chăng ở cách bố trí nơi thờ tự ở trong nhà và việc bày biện các đồ thờ trên bàn thờ giữa những gia đình giàu có, trong những ngôi nhà xưa hay trong những ngôi nhà xây cất hiện đại ngày nay, giữa những nhà khá giả và những nhà bình dân.

    Qua điều tra khảo sát ở Bến Tre cũng như nhiều tỉnh khác ở Nam Bộ, rất ít thấy nhà thờ tộc (họ) như ở miền Trung và miền Bắc. Tuy nhiên, ở những gia đình, dòng họ lớn, con cháu chung nhau làm nhà thờ, hoặc duy trì ngôi nhà xưa của ông bà để lại làm nơi thờ cúng, gọi là từ đường. Nhiều gia đình vẫn còn giữ được những bản gia phả, hoặc bằng chữ Hán, hoặc phiên thành chữ quốc ngữ ghi chép lại nguồn gốc, quá trình di chuyển từ nơi nay sang nơi khác, chức tước, công trạng, nghề nghiệp của người xưa v.v... Chính nhờ những nguồn tài liệu quý giá này, mà ngày nay chúng ta hiểu rõ được con đường, cách thức di chuyển, những nơi dừng chân, địa bàn cư trú của những lớp lưu dân ở vùng đất này. Cũng không hiếm trường hợp thay đổi tên họ do những biến động về chính trị, hay để tránh những cuộc truy bức, khủng bố của bên này hay bên kia, kể cả thực dân đế quốc.

    Ở nông thôn, nhà dù nghèo khó đến đâu, không sắm được chiếc bàn bằng gỗ, thì cũng đóng một chiếc chõng tre, hay bằng tầm vông, cao ngang ngực, trên mặt đan vỉ hay ken tre, trên cùng trải chiếc chiếu con, người bình dân quen gọi là giường thờ. Trên giường thờ cũng đặt bánh hương, chân đèn bằng sành, để đĩa đựng dầu thắp, lọ cắm hoa v.v...

    Đối với người giàu cũng như người nghèo, ngày giỗ tổ tiên, ông bà, cha mẹ là "ngày tang trong suốt đời” (chung thân chi tang) để con cháu và người thân tưởng nhớ đến người đã khuất. Vì vậy, người dân có tập quán dành những món ngon nhất, tốt nhất, từ vật nuôi đến trái cây theo mùa vụ, cân nếp, cân đậu (dùng để nấu xôi, gói bánh) cho đám giỗ người thân. Nếu phải đi mua từ ngoài chợ, thì cũng phải chọn miếng thịt tươi, con cá ngon, con gà béo tốt để về làm thức dâng cúng. Vì mỗi năm chỉ cúng giỗ một lần, cho nên mọi người đều cho lễ giỗ là trọng, từ bà con xa gần đến cả đồng hương, đồng xóm, cũng như bạn bè thân thích. Dù làm việc ở nơi đâu, gần hay xa (dĩ nhiên trừ những hoàn cảnh cách bức quá lớn) con cháu trong gia đình phải nhớ ngày mà về.

    Những gia đình khá giả thường làm lễ cúng tiên thường với lễ vật đơn sơ, gọn nhẹ từ nhiều hôm trước (như hàm ý mời gọi người thân đã quá cố hãy vui vẻ mà về với con cháu). Ngày hôm sau mới là ngày giỗ chính. Thường thì giỗ cha, giỗ mẹ, con cái làm lễ to, rồi trở lên mỗi đời xa hơn thì lễ giỗ tổ chức đơn giản hơn, không mời mọc nhiều người. Bà con, bạn bè đến ăn giỗ thường mang theo hương hoa, trái cây, rượu, bánh, trà để dâng cúng và lễ lạy trước bàn thờ người đã khuất, sau đó mới ngồi vào dự tiệc.

    Tục thờ cá Ông In

    ImageTín ngưỡng phổ biến nhất là cư dân làm nghề biển của các huyện Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú là tục thờ cá voi, thường được gọi là cá Ông. Đây là một tín ngưỡng dân gian hình thành trong quá trình tiến biến văn hóa Việt Chăm diễn ra từ đèo Ngang trở vào. Ngư dân ở biển phía Bắc không có tục thờ cúng cá voi.

    Nguyễn Duy Oanh trong quyển Tỉnh bến Tre trong lịch sử Việt Nam (từ năm 1757 đến 1945) viết về tục thờ cá ông ở ven biển nơi đây: ”Ở quận Ba Tri, dân chài lưới có lập một miếu thờ cá ông tại vùng Bãi Ngao (nay thuộc xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri). Mỗi khi ra khơi, họ thường cúng vái. Nhiều lần họ được cá Ông giúp đỡ trong lúc biển động mạnh, ghe họ sắp chìm. Họ cầu cứu cá Ông, thì ít phút sau đó, cá Ông hiện đến. Cá Ông kề lưng đỡ thuyền họ lướt qua sóng gió hãi hùng" (1).

    Trong chiều sâu tâm thức, người ngư dân đặt tin tưởng vào sinh vật khổng lồ vừa "hiền" vừa "thiêng" là loài cá voi, mà họ gọi một cách kính trọng là cá Ông, hoặc Ông, dù rằng sự cứu giúp đó mang tính huyền thoại nhiều hơn là hiện thực. Có rất nhiều danh từ để gọi cá voi với sự cung kính: Ông Nam Hải, Ông Lớn hay Ông Cậu để chỉ những cá voi to lớn, Ông Khơi để chỉ cá voi sống ngoài biển khơi, Ông Lộng để chỉ cá voi sống gần bờ. Ngoài ra còn có những cách gọi khác nhau như ông Thông, Ông Chuông, Ông Máng vừa ý nghĩa tôn kính.

    Cá chết thị gọi là Ông "lụy". Khi phát giác có Ông lụy ngoài biển, người ta đưa thuyền ra dìu xác cá vào bờ rồi tổ chức lễ chôn cất rất long trọng.

    Nơi thờ cá Ông được gọi là miếu Ông, nhưng thông dụng nhất là Lăng ông. Việc thờ cá Ông được quan niệm như là một cách đền ơn đáp nghĩa theo luật nhân quả của đạo Phật, coi cá Ông như là một thứ thần hộ mạng giữa biển khơi đầy sóng gió. Niềm xác tín ấy được phản ánh trong nội dung các bài tế văn tế bằng Hán Nôm, trong các bài hát bả trạo (còn gọi là hát đưa linh) và cả trong một số bài vè lưu hành trong cư dân ven biển. Nếu như trong các văn tế nghinh ông của các ngư dân miền Trung nghiêng về phần ngợi ca và gởi gắm niềm tin ở Ông về việc cứu người cứu thuyền trong cơn lâm nạn, thì nội dung văn tế trong nghinh ông từ Bà Rịa trở vào đến Cà Mau, Hà Tiên thường nhấn mạnh đến sự "phù hộ của ông" để cho được mùa đánh bắt, tôm cá đầy khoang, ghe thuyền ra khơi vào lộng an toàn.

    Nếu như tín ngưỡng thờ Thành hoàng bổn cảnh và lễ hộ Kỳ Yên chỉ diễn ra trong khuôn viên của đình làng, thì tín ngưỡng thờ cá ông và lễ hội Nghinh ông lại vừa diễn ra ở lăng thờ cá Ông và cả trên mặt biển. Do đó, không khí của phần lễ cũng như của phần hội ở đây thường diễn ra sôi động và cuồng nhiệt hơn. Trong tâm linh của người ngư dân, lễ hội Nghinh ông không chỉ là dịp để họ bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn đối với một sinh vật linh thiêng mà còn gởi gắm vào đó cả niềm tin và hy vọng ở một vị thần hộ mạng sẵn sàng cứu giúp họ trong cơn hoạn nạn, trong những lúc hiểm nghèo giữa nơi biển cả.

    Trên địa bàn tỉnh Bến Tre, suốt dọc dài ven biển của 3 huyện Bình Đại, Ba Tri và Thạnh Phú có tất cả 9 lăng thờ cá Ông. Lễ nghinh ông có thể chênh nhau về ngày tháng, quy mô tổ chức ở từng nơi có thể khác nhau, tùy theo làng cá, vạn cá đông hay ít, nhưng ý nghĩa và mục đích thì rất giống nhau. Có một ngoại lệ là tại huyện Bình Đại, có lăng thờ cá Ông ở xã vang Quới Tây, nằm cách xa bờ biển, tất cả các lăng thờ đều lưu trữ nhiều bộ cốt cá Ông, đặt ở nơi hậu tẩm. Người dân làm nghề biển coi những bộ cốt ấy là sự hiện diện cụ thể của đối tượng thiêng mà họ thờ cúng.

    Nếu như lễ cúng đình (lễ Kỳ Yên) hàng năm ở làng quê là lễ hội to nhất của cư dân trồng lúa nước và làm vườn, thì lễ cúng cá Ông (lễ nghinh Ông) là lễ quan trọng bậc nhất của ngư dân ven biển Bến Tre. Thành hoàng hay những vị thần khác được thờ phụng ở đình chỉ nằm trong quan niệm về cõi siêu linh, qua tưởng tượng, trong khi đó cá Ông, theo ngư dân là sinh vật thiêng ở biển, được biểu hiện bằng những bộ xương cốt đặt nơi khám thờ, bằng những ngôi mộ nằm rải rác trong khuôn viên của dinh, hay lăng thờ và cả những con cá Ông đang bơi, lặn ở nơi biển khơi, mà họ tin rằng khi gặp tai họa, rủi ro, họ sẽ nhận được sự cứu giúp.

    Lễ Nghinh Ông, hay còn gọi là lễ tế, lễ rước, lễ cúng cá Ông, tùy theo cách gọi của từng địa phương, ở nơi vạn chài, bến cảng thuộc các xã ven biển Bến Tre, về cơ bản không có gì khác biệt nhau lắm. Thời gian tổ chức lễ giữa nơi này và nơi khác có thể chênh nhau, nhưng thường diễn ra trước mùa đánh bắt ở biển.

    Vì vậy, có nơi kết hợp lễ Nghinh Ông với lễ cầu ngư, mở đầu cho mùa cá mới của năm. Ở xã Thới Thuận (huyện Bình Đại) lễ Nghinh Ông được tổ chức vào ngày 20-6 (Âm lịch), ở xã Thừa Đức cùng huyện, lễ mở vào ngày 23-4 (Âm lịch), ở Bảo Thạnh, Tân Thủy (huyện Ba Tri) lễ mở vào ngày 15 và 16-6 (Âm lịch). Ở xã Bình Thắng (huyện Bình Đại) lễ cũng được tổ chức vào hai ngày 15 và 16-6 (Âm lịch).

    Sự thờ cúng cá Ông tạo ra một lễ hội trong đời sống văn hóa các xã vùng biển. Lễ hội Nghinh Ông là dịp để người dân làm nghề biển thư giãn, lấy lại thăng bằng tâm linh sau những ngày lao động vất vả, đồng thời để tỏ lòng biết ơn đối với một sinh vật “thiêng" ở biển, mà trong tâm thức nhiều ngư dân vẫn chứa đựng một niềm tin về sự giúp đỡ của cá Ông khi gặp tai nạn. Có thể nói, ngày lễ hội Nghinh Ông là ngày tưng bừng đối với người dân vùng biển. Không khí náo nức, tràn trề hưng phấn bắt đầu khi chờ đợi “Ông lên vọi" ngoài khơi, khi thấy việc xin ông làm chứng đã hoàn tất qua động tác xin keo của ông chánh bái. Dọc đường đoàn ghe ra khơi nghinh ông trở về, hai bên bờ sông các ghe thuyền đều chăng kết hoa, bày lễ cúng và đốt pháo giòn giã. Ở tại nhà suốt ngày hôm ấy, các ngư dân mời mọc nhau, kể cả khách từ xa đến, cùng nhau ăn uống vui chơi, trò chuyện thân tình.

    + Tôn giáo:

    Tỉnh Bến Tre nói riêng cũng như Nam Bộ nói chung, từ lâu là địa bàn cư trú của nhiều tộc người, đông nhất là người Việt, rồi đến người Khmer, người Hoa, người Chăm... Trong quá trình cộng cư đã diễn ra mối quan hệ giao lưu văn hóa giữa các cộng đồng cư dân nói trên khá đậm nét, mà rõ nhất là trên lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo.

    Đạo Nho ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống tinh thần của người dân vùng ba cù lao này từ nửa đầu thế kỷ XX về trước, nhưng xét về mặt hành đạo cũng như hệ thống giáo quyền, đạo Nho hoàn toàn không giống như đạo Phật hay đạo Thiên Chúa. Đây là đạo thờ ông bà, một thứ tín ngưỡng đã có gốc rễ sâu sắc trong quảng đại quần chúng từ xa xưa, vừa mang ý nghĩa luân lý, vừa là sự biểu rõ tình cảm về huyết thống được thể hiện trong môi trường gia đình, gia tộc, không mang tính chất thần thánh hóa, không có giáo điều, giáo lý, cũng không có giáo chủ, không cần người thuyết giảng để làm cái gạch nối giữa đạo và đời. Từ “đạo” ở đây theo cách hiểu của dân gian là một tập tục hàm chứa lòng biết ơn, nghĩa sinh thành, lòng hiếu thảo với ông bà, tổ tiên, sự ý thức về nguồn gốc của mình.

    Ngoài những tín ngưỡng, tôn giáo truyền thống mang theo từ mảnh đất cội nguồn, những lưu dân người Việt trên bước đường di chuyển và định cư ở vùng đất mới, đã tiếp nhận có chọn lọc các yếu tố văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo của các cư dân bản địa. Hầu như các tôn giáo phổ biến ở vùng đồng bằng sông Cửu Long đều có mặt ở Bến Tre từ đạo Nho, đạo Phật, đạo Thiên Chúa, Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo, đạo Dừa... xét về mặt ảnh hưởng cũng như số lượng tín đồ, thì đáng chú ý nhất là 3 tôn giáo lớn: đạo Phật, đạo Thiên Chúa và đạo Cao Đài.


    Nhắn tin cho tác giả
    Trần Thục Hiền @ 11:37 19/09/2010
    Số lượt xem: 5940
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến