CHÚC MỪNG NĂM MỚI

KÍNH CHÚC QUÝ THẦY CÔ

MẤY GIỜ RỒI NHỈ

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    101 khách và 0 thành viên

    Tài nguyên dạy học

    Hỗ trợ trực tuyến

    • (Trần Thục Hiền)
    • (Hoàng Minh Phương)

    Điều tra ý kiến

    Bạn thấy trang này như thế nào?
    Đẹp
    Đơn điệu
    Bình thường
    Ý kiến khác

    CẢNH ĐẸP

    ĐỌC BÁO ONLINE

    Ảnh ngẫu nhiên

    Uoc_mo_cua_Rachel_PhotographersMicrosoft_2009.jpg Kenh_dao_PaNaMa.flv Nguyennhadongdat.flv Presentation1_2.flv Presentation1.flv VietnamBDKH.flv CUUNON_CHUC_TET.swf TruongChiMinuong.swf 5nghuyen_nhan_thuy_trieu.flv 2chuyen_dong_cua_he_mat_troi.flv CAY_BONG_HONG_TANG_CO.swf Lua_doi92.swf Xuatkhau.flv Tietkiemnoicongso.flv Tuyentruyenvetietkiem.flv Bongdentietkiem.flv Nhuongmeotietkiem.flv Giaiphapnangluongsach.flv

    Hôm nay tôi...

    Ngày hôm nay, tôi sẽ tin rằng mình là người đặc biệt, một người quan trọng. Tôi sẽ yêu quý bản thân tôi với chính những gì tôi có và không so sánh mình với những người khác.
    Ngày hôm nay, tôi sẽ tự lắng lòng mình và cố gắng trầm tĩnh hơn. Tôi sẽ học cách kiểm soát những cảm xúc và suy nghĩ của mình.
    Ngày hôm nay, tôi sẽ học cách tha thứ những gì người khác đã gây ra cho tôi, bởi tôi luôn nhìn vào hướng tốt và tin vào sự công bằng của cuộc sống.
    Ngày hôm nay, tôi sẽ cẩn trọng hơn với từng lời nói của mình. Tôi sẽ lựa chọn ngôn từ và diễn đạt chúng một cách có suy nghĩ và chân thành nhất.
    Ngày hôm nay, tôi sẽ tìm cách sẻ chia với những người bạn quanh tôi khi cần thiết, bởi tôi biết điều quý nhất đối với con người là sự quan tâm lẫn nhau.
    Ngày hôm nay, trong cách ứng xử, tôi sẽ đặt mình vào vị trí của người đối diện để lắng nghe những cảm xúc của họ, để hiểu rằng những điều làm tôi tổn thương cũng có thể làm tổn thương đến họ.
    Ngày hôm nay, tôi sẽ an ủi và động viên những ai đang nản lòng. Một cái siết tay, một nụ cười, một lời nói của tôi có thể tiếp thêm sức mạnh để họ vững tin bước tiếp.
    Ngày hôm nay, tôi sẽ dành một chút thời gian để quan tâm đến bản thân mình. Tôi sẽ làm tâm hồn và trí óc mình phong phú, mạnh mẽ hơn bằng cách học một cái gì đó có ích, đọc một cuốn sách hay, vận động cơ thể và ăn mặc ưa nhìn hơn.
    Ngày hôm nay, tôi sẽ có một danh sách những việc cần làm. Tôi sẽ nỗ lực nhất để thực hiện chúng và tránh đưa ra những quyết định vội vã hay thiếu kiên quyết.
    Ngày hôm nay, tôi sẽ bỏ lại phía sau mọi lo âu, cay đắng và thất bại, khởi đầu một ngày mới với một trái tim yêu thương và hồn nhiên nhất. Tôi sẽ sống với những khát khao, mơ ước mà mình luôn ấp ủ.
    Ngày hôm nay, tôi sẽ thách thức mọi trở ngại trên con đường mà tôi lựa chọn và đặt niềm tin. Tôi hiểu rằng, khó khăn là một phần của cuộc sống và chúng tồn tại là để tôi chinh phục và vượt qua.
    Ngày hôm nay, tôi sẽ sống hạnh phúc. Tôi sẽ trải rộng lòng để cảm nhận cái đẹp trong cuộc sống, để yêu thương và tin tưởng những người tôi yêu quý, và những người thương yêu tôi. Tôi sẽ làm những việc khiến tôi cảm thấy hạnh phúc: xem một bộ phim hài, làm một việc tử tế, giúp đỡ một ai đó, gửi một chiếc thiệp điện tử, nghe một bản nhạc yêu thích...
    Và hôm nay, ngay bây giờ, tôi cảm nhận được hạnh phúc và sức sống mới để bắt đầu một ngày mới thật có ích - bất kể ngày hôm qua như thế nào. Bạn cũng vậy nhé! Hãy nhớ rằng: Gieo suy nghĩ, bạn sẽ gặt hành vi. Gieo hành vi, gặt tính cách. Và gieo tính cách, bạn gặt số phận. Hãy gieo cho mình những suy nghĩ tích cực mỗi ngày để bạn có một tinh thần trong lành, mạnh mẽ. Hãy đọc trang này mỗi ngày như câu thần chú cho sức mạnh nội tại của bạn. Và bạn sẽ ngạc nhiên vì những kết quả bạn nhận được. Chúc bạn có một ngày hữu ích và tràn đầy những niềm vui, sự yêu thương – Trần Thục Hiền

    NGÔI NHÀ VIOLET

    THỜI TIẾT HÔM NAY

    Lấy code

    Chức năng chính 1

    Chức năng chính 2

    Hôm nay nhé!

    Chào mừng quý vị đến với Website Địa lý & Cuộc sống của Trần Thục Hiền.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > CÁC TỈNH THÀNH VIỆT NAM > Tây bắc và Đông bắc >

    * Hà Giang

    Thông tin tổng quan

    Tỉnh Hà Giang được thành lập ngày 20/8/1891 và tái thành lập ngày 1/10/1991.
    Vị trí địa lý: Là tỉnh miền núi cao, nằm ở cực Bắc của tổ quốc, phía bắc giáp với tỉnh Vân Nam và Quảng Tây – Trung Quốc với đường biên giới dài 274km. Phía nam giáp tỉnh Tuyên Quang, phía Đông giáp Cao Bằng, phía tây giáp Yên Bái và Lào Cai.
    Diện tích tự nhiên là 7.884,37km2
    Địa hình: Do cấu tạo địa hình phức tạp, thiên nhiên tạo ra và ưu đãi cho Hà Giang một nguồn tiềm năng to lớn về khí hậu, đất đai, tài nguyên và khoáng sản... Từ những đặc điểm khí hậu, thổ nhưỡng, địa hình Hà Giang được chia thành ba vùng với những điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội khác biệt, mỗi vùng có tiềm năng và thế mạnh riêng đó là:
    - Vùng I: Là vùng cao núi đá phía Bắc gồm 4 huyện: Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh và Quản Bạ. Diện tích toàn vùng là 2.352,7 Km2, dân số trên 20 vạn người chiếm xấp xỉ 34,3% dân số toàn tỉnh. Do điều kiện khí hậu rét đậm về mùa đông, mát mẻ về mùa hè nên rất thích hợp với việc phát triển các loại cây ôn đới như cây dược liệu thảo quả, đỗ trọng; Cây ăn quả như mận, đào, lê, táo... Cây lương thực chính ở vùng này là cây ngô. Chăn nuôi chủ yếu là bò, dê, ngựa và nuôi ong. Những giống gia súc trên đây là giống riêng của vùng ôn đới, có đặc điểm to hơn và chịu được rét đến cả độ âm. Đàn ong ở đây chủ yếu chỉ phát triển vụ hè - thu với 2 loại hoa chính là hoa ngô và hoa bạc hà. Mật ong hoa bạc hà là  thứ mật ong đặc biệt có giá trị trong việc chữa bệnh và bồi dưỡng sức khoẻ.
    - Vùng II: Là vùng cao núi đất phía tây gồm các huyện Hoàng Su Phì và Xín Mần. Diện tích tự nhiên 1.211,3 km2, dân số chiếm 15,9%. Điều kiện tự nhiên vùng này thích hợp cho việc phát triển cây trẩu và cây thông lấy nhựa. Cây lương thực chính vùng này là lúa nước và ngô. Chăn nuôi chủ yếu là trâu, ngựa, dê và các loại gia cầm.Vùng này là vùng đất của chè Shan tuyết và chủ nhân lâu đời của nó là người Dao - Một dân tộc có kinh nghiệm trồng và chăm sóc cây chè núi lâu đời.
    - Vùng III: Là vùng núi thấp gồm các huyện: Bắc Quang, Vị Xuyên, Bắc Mê, Quang Bình và thị xã Hà Giang là vùng trọng điểm kinh tế của Hà Giang. Diện tích tự nhiên 4.320,3 km2, dân số chiếm 49,8%. Điều kiện tự nhiên thích hợp với các loại cây nhiệt đới, thuận lợi cho việc phát triển nghề rừng, trồng các loại cây nguyên liệu giấy như bồ đề, mỡ, thông và đây cũng là vùng tre, nứa, vầu, luồng lớn nhất trong tỉnh ... Ngoài ra đây còn là vùng trồng các loại cây ăn quả có múi như cam, quýt, chanh ...
    Khí hậu: mang đặc điểm nhiệt đới gió mùa vùng cao, mang nhiều sắc thái khí hậu ôn đới.
    Dân số: Trên 680.000 người.
    Dân tộc: 22 dân tộc anh em cùng sinh sống tạo nên một sự đa dạng về bản sắc văn hoá. Trong đó dân tộc Mông chiếm 30,6%, Tày chiếm 24,9%, Dao chiếm 15,2%, dân tộc Kinh chiếm 12%....
    Đơn vị hành chính: Hà Giang có một thị xã là trung tâm và 10 huyện, tổng số có 195 xã, phường, thị trấn, trong đó có 112 xã đặc biệt khó khăn .
    Kết cấu hạ tầng: Đường giao thông chính đến Hà Giang là đường quốc lộ 2. Năm 2000, 100% xã có đường ô tô đến trung tâm. Lưới điện phát triển rộng khắp, đến nay toàn tỉnh đã có 184 xã, phường, thị trấn có điện lưới quốc gia; hệ thống lưới điện đảm bảo cung cấp cho nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của nhân dân. Bưu chính viễn thông đã vươn tới các xã vùng sâu, vùng xa, mạng cáp quang liên tỉnh đã được hoàn thành và đưa vào sử dụng, 11 huyện thị có điện thoại di động , 100% xã phường có điện thoại.
    Tài nguyên thiên nhiên: Tỉnh có 9 nhóm đất trong đó chủ yếu là đất xám, rất thích hợp cho phát triển cây  công nghiệp, cây dược liệu và cây ăn quả. Hà Giang có diện tích rừng lớn với 345.860ha rừng tự nhiên, nhiều khu rừng nguyên sinh với các loại động vật quý cùng nhiều loại cây gỗ, cây dược liệu quý. Tài nguyên nước có tiềm năng rất lớn cho phát triển thuỷ điện. Về tài nguyên khoáng sản Hà Giang có 28 loại khoáng sản khác nhau, nhiều mỏ có trữ lượng lớn với hàm lượng khoáng chất cao.
    Cơ cấu kinh tế: Đang chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng nông – lâm nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ.
    Đời sống dân cư: Tăng trưởng GDP đạt tốc độ tăng trưởng cao, giai đoạn 2001-2005 đạt bình quân 10,3%/năm, thu nhập bình quân đầu người năm 2005 khoảng 2,4 triệu đồng/năm, hệ thống điện- đường - trường - trạm được tập trung đầu tư đáp ứng được nhu cầu của người dân. Phấn đấu đến năm 2010 sẽ giảm tỷ lệ nghèo từ 26% xuống còn 15%. 
    Chiến lược phát triển Kinh tế - Xã hội

    Đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, vững chắc. Tạo bước chuyển biến về sản xuất  hàng hoá cả số lượng, chất lượng và hiệu quả; Tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội. Nâng cao năng lực khoa học, công nghệ, giáo dục - đào tạo; phát huy nhân tố con người, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống nhân dân, cơ bản không còn hộ đói, giảm một nửa số hộ nghèo, tăng gấp đôi số hộ khá, giàu. Tăng cường cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, tạo các tiền đề để phát triển trong các năm tiếp theo. Bảo vệ vững chắc chủ quyền, xây dựng biên giới hoà bình, hữu nghị, giữ vững ổn định chính trị và an toàn xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh, xây dựng hệ thống chính trị ngày càng vững mạnh. 

    Mục tiêu chủ yếu đến năm 2005 và 2010

    • Phấn đấu đưa nhịp độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2001 - 2010 đạt trên 11%/năm, đến năm 2010 có giá trị GDP tăng gấp 2,87 lần, GDP/ người tăng gấp 2,5 lần so với năm 2000. Cụ thể đối với giai đoạn 2001-2005 phấn đấu nhịp độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm tăng trên 11%, trong đó: Nông lâm nghiệp - thuỷ sản tăng 5% trở lên; Công  nghiệp - xây dựng tăng 15%; Các ngành dịch vụ tăng 18%.

    • Cơ cấu kinh tế (GDP giá thực tế):  Phát triển mạnh công nghiệp và các ngành dịch vụ để đến năm 2005 có cơ cấu kinh tế: Nông nghiệp Nông lâm nghiệp - thuỷ sản chiếm 41%; Công nghiệp  xây dựng chiếm 29%; Các ngành dịch vụ chiếm 30%; đến năm 2010 cơ cấu là: Nông lâm nghiệp chiếm 33,5%, công nghiệp chiếm 30,1%, dịch vụ chiếm 36,4%.

    • GDP bình quân đầu người vào năm 2005 đạt 3,2 triệu đồng, tăng 1,85 lần so với năm 2000; Vùng động lực của tỉnh đạt 5 triệu đồng, tương đương với 350 USD, tăng 1,5 lần so với bình quân chung toàn tỉnh; đến 2010 GDP bình quân đat 6,45 triệu đồng/ người/ năm.

    • Đến năm 2005 căn bản không còn hộ đói, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống dưới 10%; tỷ lệ hộ khá chiếm 26%, tỷ lệ hộ giàu chiếm 13%; đến năm 2010 tăng 3 lần số hộ khá giàu so với hiện nay.

    • Tổng sản lượng lương thực có hạt năm 2005 đạt 23 vạn tấn; Bình quân lương thực đầu người đạt 330 kg/ năm; đến năm 2010 đạt 360 kg/ người/ năm.

    • Giá trị hàng xuất khẩu và có tính chất xuất khẩu trong 5 năm đạt 30 triệu USD, bình quân đạt 6 triệu USD/ năm, tăng lên 30 triệu USD vào năm 2010.

    • Thu ngân sách trên địa bàn đạt trên 150 tỷ đồng vào năm 2005.

    • Tỷ lệ học sinh trong độ tuổi (6-14 tuổi) đến trường đạt 95% trở lên và đạt 99% vào năm 2010.

    • Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm xuống còn 1,7% vào năm 2005 (trung bình mỗi năm giảm từ 0,5%0 đến 0,7%0) và xuống còn 1,5% vào năm 2010.

    • Đến năm  2005 có 50% số xã đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục trung học cơ sở; đến 2010 đạt 70% số xã đạt tiêu chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục Trung học cơ sở.

    Chiến lược phát triển kinh tế xã hội hiện tại (năm 2003)

    Căn cứ chỉ thị số 14/2002/CT-TTg ngày 28/6/2002 của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2003. Căn cứ Nghị quyết đảng bộ tỉnh lần thứ XIII về phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2001-2005; Căn cứ dự báo kết quả thực hiện kế hoạch năm 2002 cũng như khả năng và điều kiện thực tế của tỉnh, các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội  năm 2003 được dự kiến như sau:

    • Tổng sản phẩm GDP trong tỉnh tăng trên 11% so với năm 2002.
                    Trong đó: - Nông lâm nghiệp - thuỷ sản tăng:  5,2%
                                    - Công nghiệp - xây dựngtăng: 19%
                                    - Dịchvụ tăng:17%.

    • Cơ cấu kinh tế: Nông lâm nghiệp - thuỷ sản chiếm 45%; Công nghiệp - xây dựng chiếm 24%; Dịch vụ chiếm 31%.

    • Thu nhập bình quân đầu người đạt: 2,36 triệu đồng.

    • Tổng sản lượng lương thực quy thóc đạt: 22,5 vạn tấn.

    • Lương thực bình quân đầu người đạt 345 kg/ người trở lên.

    • Thu ngân sách trên địa bàn đạt 151 tỷ đồng trở lên (trong đó thuế và phí 66 tỷ đồng trở lên, thu thuế xuất nhập khẩu 85 tỷ đồng).

    • Giá trị xuất khẩu trực tiếp và xuất khẩu uỷ thác đạt 5 triệu USD.

    • Tỷ lệ huy động học sinh trong độ tuổi (6-14 tuổi) đến trường trong năm học 2003-2004 đạt trên 97%.

    • Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên: 1,78% (giảm 0,5%o) so với năm 2002.

    • Tỷ lệ hộ đói nghèo giảm 5% so với năm 2002.

    • Tỷ lệ phủ sóng phát thanh 85%, tỷ lệ phủ sóng truyền hình 80%.

    • Tổng các nguồn vốn đầu tư toàn xã hội dự kiến từ 700 - 750 tỷ đồng....

    (Nguồn: Sách "Ha Giang tiềm năng đầu tư và phát triển đến năm 2010")

    Bản đồ hành chính
     


    Nhắn tin cho tác giả
    Trần Thục Hiền @ 10:31 25/02/2010
    Số lượt xem: 821
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến