|
Hôm nay nhé!
|
Chào mừng quý vị đến với Website Địa lý & Cuộc sống của Trần Thục Hiền.
* Phố Hàng Đào thời xưa
--- Thọ Cao ---
Giữa cái se lạnh của đất trời Hà Nội đang vào Xuân Đinh Sửu, tôi nghồi nghe ông bạn kiến trúc sư nói về Hà Nội đến năm 2010. Lòng tôi dậy lên niềm vui sướng khi được biết những khu phố cổ, khu thành cổ vẫn được bảo tồn, tôn tạo, khu phố cũ được chỉnh trang. Xuân về rồi, tôi bỗng miên man nghĩ tới phố Hàng Đào thời xưa và những phiên chợ tơ lụa một thời sầm uất.
Sao gọi là phố Hàng Đào? Cũng như phố Hàng Trống bán trống, phố Hàng Bồ bán bồ, phố Hàng Bạc bán tư trang vàng, bạc, phố Hàng Chiếu bán chiếu v.v... phố Hàng Đào chuyên nhuộm các hàng tơ lụa màu hoa đào hồng tươi để bán. Đó là cách lấy nghề đặt thành tên phố.
Phố Hàng Đào thời cổ, nhà mái lá, mái ngói nhô ra thụt vào, không có vỉa hè. Đường đất gồ ghề, rất hẹp, ngày nắng bụi mù, ngày mưa lầy lội, không có cống, nước tụ lại chảy thành rãnh hai bên vệ đường.
Nhà ở trong phố cổ có những nét giống nhau. Một vài phố khác cũng thế. Mặt nhà trông ra đường rất hẹp nhưng càng đi vào càng rộng, càng sâu, ăn thông cả sang phố đằng sau. Phía trong có sân nhỏ, ở giữa chơi cây cảnh, cá vàng, núi non bộ. Chỗ ở rộng, bày bàn thờ, án thư, ghế tràng kỷ, giường... Trong cùng là nhà để thóc, cối xay thóc, cối giã gạo, nhà bếp. Ngoài cửa, nhà nào cũng xây một cái bể chứa nước để phòng hỏa hoạn, ban ngày hạ những cánh cửa lùa bằng gỗ xuống, đặt lên mặt bể làm chỗ ngồi bán hàng. Trước cửa hàng, các nhà treo những tua vải nhuộm các màu xanh, đỏ, tím, vàng trên cái sào dài, trông vui mắt. Bên trong kê bộ phản dài, trên đặt tủ ở sát tường, bày các thứ tơ, lụa, the, lượt, vải, nhiễu...
Chiều xuống, phố thưa dần. Xẩm tối, nhà hai bên hàng phố lại dựng những tấm cửa lùa bằng gỗlên, chèn thêm thanh gỗ dài và chắc ở đằng sau. Ban đêm, ngoài đường tối om. Trong nhà le lói ngọn đèn dầu. có người gọi cửa. Người nhà kéo miếng gỗ để nhìn ra ngoài, qua cái lỗ tròn trổ trên cánh cửa lùa, xong chuyện lại đónglại. Chỉ có khách cần mới mở cửa chính. Đầu phố rẽ ra Hàng Bạc và cuối phố rẽ ra Cầu Gỗ có cổng đóng kín. Lính đứng canh rồi đi tuần, tay cầm gậy tày, dao trường, thỉnh thoảng rúc lên hồi tù và vang vọng sang tận phố bên. Nhưng cứ đến tháng giáp Tết, gọi là tháng củ mật, trộm cướp như rươi, chẳng khác nào ở nông thôn hẻo lánh.
Nghề nhuộm tơ lụa thời ấy thịnh vượng lắm, ngày càng tinh xảo, mặc dầu chỉ nhuộm bằng tay, trongcái nồi đồng lớn một người ngồi lọt. Nhiều nhà hết thảy con cháu đều quây vào nghề nhuộm đủ ngũ sắc cầu vồng, chứ không phải chỉ nhuộm màu hoa đào như khi mới dựng nghề. Cửa hàng nhuộm của họ Vũ, phường Đồng Lạc, nổi tiếng một thời, được khách tín nhiệm, đem hàng đến nhuộm rất đông.
Rồi nghề thương mại phát triển, hàng tơ lụa ở nhiều nơi đổ về bán, cạnh tranh với tơ lụa đất Kinh Kỳ. Nhiều nhà ở Hàng Đào bỏ nghề nhuộm, chuyển sang bán tơ lụa, vải tấm. Những cái nồi đồng lớn xếp xó dưới gầm giường.
Phố Hàng Đào xưa, cả phố Hàng Gai, còn có phiên chợ như chợ Đơ (Hà Đông) thường gọi phiên chợ hàng tơ, hàng the. Một tháng sáu phiên vào những ngày một, ngày sáu. Phố sá nhộn nhịp cả ngày. Từ sáng sớm, người từ các làng Cổ Nhuế, Bưởi, Đại Mỗ, La Cả... ra bán the, lụa, lĩnh. Mỗi người đeo trên vai cáitay nải bằng vải nâu hay lụa, trong đựng những tấm hàng dệt tơ tằm, được gấp thật thẳng, hai đầu kẹp hai tấm ván lâu ngày đã lên nước bóng. Cả đàn ông, đàn bà mặc quần áo sồi, nữ mặc váy, nam mặc quần lá toa, chân đều đi đất, nuôi tằm, ươm tơ các vùng Tứ Tổng, Phùng, Hưng Yên ... đến bán tơ, những con tơ sợi nhỏ, vàng óng. Các hiệu mua rồi bán cho các làng ngoại thành sống bằng nghề dệt.
Buổi chiều, đến thợ nhuộm trả hàng cũ, nhận hàng mới. Các bà ở các vùng Tây Hồ, Đình Bảng, Chợ Giàu trả và nhận hàng nhuộm thâm. Các bà ở Bưởi, Cầu Gỗ trả và nhận hàng nhuộm màu, nhận cả tơ lụa mộc về chuội trắng.
Ngồi giữa sập gụ khảm trai đen bóng, dưới chiếc quạt kéo bằng dây bà chủ hiệu mặc quần áo lụa trắng, đánh phấn, bôi môi, vấn tóc trần, đeo hoa tai, chuỗi hạt ngọc xanh, nhẫn kim cương. Bà luôn tay giơ thước đo, mắt nhìn mặt lụa xem dệt có lỗi gì không, rồi ném xấp lụa xuống chân sập. Anh thư ký nhặt lên, xếp thành chồng trước mặt, rồi hỏi tên chủ lụa, số thước, ghi vào sổ cẩn thận. Bà bán được hàng te tái bước ra, đi công việc khác, chốc nữa mới trở lại, lấy tiền cùng với người khác một thể. Nếu mua tơ thì khấu tiền đi. X ung quanh bà chủ hiệu; những xấp lụa vẫn còn cao, người ngồi chờ bán lụa vẫn còn đông, ngồi từ cửa vào, choán hết lối đi.
Những tấm lụa mượt mà kia, mỗi tấm năm, bảy chục thước, các hiệu luôn mua trọn tấm, cứ để nguyên mộc như thế mà gửi vào Sài Gòn bán. Giá tơ lụa lên xuống thất thường từng phiên, làng tơ cửi kiếm được ít đồng cũng vất vả đêm ngày. Bao nhiêu thợ cửi, thợ hồ trông cả vào cái khung cửi, sống chết với nghề dệt truyền thống của cha ông, dệt nên những tấm lượt, tấm nhiễu, tấm the, tấm sa, tấm lĩnh... may thành khăn, áo, quân, dây lưng bền đẹp, nức tiếng thời xưa mà thế hệ ngày nay chỉ được trông thấy trên sân khấu trong cảnh lễ hội, đám cưới...
Còn những nhà buôn tơ lụa phố Hàng Đào, từ cái vốn nhỏ nhoi lúc đầu, cứ giàu bốc lên theo cái câu "phi thương bất phú". Chẳng bao lâu ở những phố buôn lớn của Hà Nội mọc lên những ngôi nhà hai, ba tầng, bên ngoài treo biển vừa chữ ta, vừa chữ Tây, bên trong quầy và tủ kính kê san sát, bày đủ loại hàng đắt tiền của ta và của ngoại. Các hiệu Lợi Quyền (Hàng Đào) Trịnh Văn Bô (Hàng Ngang) Cát Long, Mỹ Bảo (Hàng Gai) Vũ Văn An (Hàng Bài) Lê Thuận Khoát, Dương An (Hàng Trống) buôn các hàng tơ lụa, kếp, sa tanh, nhung, các loại tít-suy may Âu phục, các thứ hàng thêu đăng-ten, vơ-ni trắng. Các nhà Vũ Văn An, Lợi Quyền, Mỹ Bảo... còn có đầu óc làm ăn lớn, mở thêm xưởng dệt ở Hàng Ngang, Tam Đa, Bưởi...
Thời ấy, lại thấy xuất hiện ở Hàng Đào, nhất là Hàng Ngang, cả ở Hải Phòng, Nam Định... nhiều hiệu buôn của ấn Kiều, người ấn Độ bán vải lúc nào miệng cũng nhai trầu, trên đầu cũng đội cái mũ nỉ đỏ có chùm tua đen hoặc xanh xẫm. Tơ lụa Bombay rẻ hơn của ta vài giá. To nhất Hàng Đào ngày ấy là hiệu Hadji Sahive, có người ấn da đen, râu xồm, đầu quấn khăn, tay cầm cái tẩu thuốc, ngồi coi cửa, trẻ con đi qua sợ chết khiếp.
Việc buôn bán thay đổi theo từng thời nhưng các bà, các cô gái Hàng Đào, Hàng Ngang vẫn có tiếng buôn bán giỏi, nói năng nhẹ nhàng, lịch sự, quanh năm sống trong nền nếp gia phong. Chỉ ra cửa ngồi trông hàng cũng phải mặc áo dài, đi đâu phải xin phép.
Một câu chuyện nhiều người biết, làm sôi nổi dư luận từ già nửa thế kỷ trước. ấy là nàng Vương Thị Phượng, đẹp nhất Hà Thành thời ấy, mẹ người Việt, bố người Hoa, ông Vương Toàn Thắng, bán tơ lụa ở Hàng Đào. Cô lấy ả Cẩu, người Tàu lai, cháu cụ Phan Bách Vạn, triệu phú, buôn gấm vóc ở Hàng Ngang. Đám cưới to nhất Hà Thành thời đó, theo đúng phong tục Trung Hoa xưa cũ. Khi đã có ba mặt con, ả Cẩu sinh chơi bời, phá cơ nghiệp, lấy vợ cô đầu, đánh đập vợ tàn nhẫn. Nàng bỏ nhà ra đi, vàoNam, ra Bắc, trở thành kiếp bèo dạt mây trôi, liên tiếp sa vào những cuộc tình duyên bịp bợm, xỏ xiên đến đắng cay, uất ức. Cuối cùng, nàng phát điên, phải vào nhà thương Phủ Doãn chữa làm phúc, rồi chết thảm thương trong nhà xác. Cỗ xe ngựa đưa kẻ vô thừa nhận tới nghĩa trang Bạch Mai, không người đưa tiễn.
Chuyện của cô gái Hàng Đào bất hạnh ấy được viết thành tiểu thuyết, chuyển thể thành cải lương, kịch nói "Mồ cô Phượng", ai xem cũng xót thương một kiếp hông nhan bạc mệnh.
Trần Thục Hiền @ 08:00 24/04/2009
Số lượt xem: 510
- * Bà Nà Núi Chúa - Kho tài nguyên dược liệu (23/04/09)
- Ngắm ruộng bậc thang trong mùa tuyệt đẹp (19/04/09)
- Lung linh đèn lồng Hội An (18/04/09)
- * Vẻ đẹp Hội An trong ánh "đèn dầu". (15/04/09)
- Hoang sơ Hòn Mấu - Kiên Giang (09/04/09)
Các ý kiến mới nhất