|
Hôm nay nhé!
|
Chào mừng quý vị đến với Website Địa lý & Cuộc sống của Trần Thục Hiền.
* Thủ đô Hà Nội
|
Địa lý
HNP - Thăng Long- Hà Nội nằm ở tọa độ: 210 05 vĩ tuyến Bắc, 1050 87 kinh tuyến Đông, trong vùng tam giác châu thổ sông Hồng, đất đai mầu mỡ, trù phú. được che chắn ở phía Bắc - Đông Bắc bởi dải núi Tam Đảo và ở phía Tây - Tây Nam bởi dãy núi Ba Vì - Tản Viên, khoảng cách là 50km.
Thế kỷ XX, Hà Nội nhiều lần xảy ra động đất cấp 6 và đã 2 lần động đất cấp 7. Những năm gần đây, hiện tượng động đất ở vùng Hà Nội tăng lên rõ rệt. Mặt đất Hà Nội xuất hiện nhiều khe nứt sâu, phương Tây Bắc – Đông Nam, trùng với hướng sông Hồng và cũng là hướng các đứt gãy sâu trong vỏ trái đất. Một điều hiển nhiên, đất Hà Nội là đất bãi và trên bãi của sông Hồng, do phù sa sông Hồng đắp đổi. Cho nên đất Hà Nội nội thành, bên Hồ Tây, có dòng Tô Lịch, lại có rất nhiều đầm hồ. Xem trên bản đồ từ thời xưa cho đến giữa thế kỷ này, thì lãnh thổ Hà Nội là một vùng đầm lầy, một thành phố sông hồ, nửa đất, nửa nước. Phần lãnh thổ chủ yếu của Thăng Long – Hà Nội xưa là phần đất bồi, được bao bọc bởi sông Hồng ở Bắc và phía Đông, bởi sông Tô Lịch và sông Kim Ngưu (nhánh sông Tô) ở phía Tây và phía Nam. Trong tờ chiếu (hỏi ý các quan) về việc dời Đô, Lý Công Uẩn nói: “Ở trung tâm cõi bờ đất nước, có cái thế rồng cuộn hổ ngồi, vị trí ở giữa bốn phương Đông Tây Nam Bắc, địa hình thế núi sông sau trước. Ở nơi đó địa thế rộng mà bằng phẳng, vùng đất cao mà sáng sủa, cư dân không khổ vì ngập lụt, muôn vật đều phì nhiêu tươi tốt. Xem khắp nước Việt ta chỗ ấy là nơi hơn cả, thực là chỗ bốn phương tụ hội, là nơi đô thành bậc nhất của Đế vương muôn đời!” Ta có thể xem đó là một bản tuyên ngôn địa chính trị - địa chiến lược về Hà Nội nghìn xưa và cái “rốn” của Long thành là núi Nùng. Trên núi ấy, các vua Lý-Trần-Lê xây điện Càn Nguyên, điện Kính Thiên và núi Nùng. Huyền thoại được thiêng hoá và cùng Sông Cái, trở thành hai biểu tượng của Kinh thành Núi Nùng-Sông Nhị.
|
|
|
| Ảnh: Thành Hà Nội xưa |
HNP - Hoàng thành là vùng bao quanh cung - điện hoàng gia , mở 4/5 cửa Đông (xưa cửa Đông lan tới Hàng Cân – Hàng Đường; Đông môn tự (chùa) ở 38B Hàng Đường. Đông Môn đình ở 10 Hàng Cân. Tây: bia chùa Đọi được xây dựng ở “Vườn phía Tây Cấm thành”. Cửa Tây, như đã nêu, ở khoảng giữa Hùng Vương-nhà họp Quốc hội. Bắc (cửa Bắc nay), Nam: 2 cửa, 1 ở phía chợ Cửa Nam nay trông ra vườn hoa Cửa Nam, 1 ở xế chân Cột Cờ nay, thẳng góc theo trục Kính Thiên – Đoan Môn - Cửa Nam (cũ) đã bị phá.
Về tổng thể, kinh thành Thăng Long thời Lý được xây dựng theo kiến trúc”tam trùng thành quách”( 3 vòng tường thành lồng vào nhau): vòng ngoài cùng gọi là thành Đại La( La thành),vòng thành giữa gọi là Hoàng thành, vòng thành trong cùng gọi là Cấm thành (còn gọi là Nội Cấm, Cấm Nội) , có tường bao các cung-điện chính mà cửa nam Cấm thành, như đã nói là Đoan Môn.
Vị trí núi Nùng ngày nay chính là điện Kính Thiên thời Lê và xưa hơn là điện Thiên An, điện Càn Nguyên thời Lý - Trần –Lê, tức là trung tâm của Hoàng thành và cũng là trung tâm của Cấm thành Thăng Long thời Lý - Trần – Lê. Như vậy, cuộc khai quật tại khu vực dự kiến xây dựng nhà Quốc Hội và hội trường Ba Đình (mới) chính là một bộ phận thuộc trung tâm phía Tây của Hoàng thành và Cấm Thành thời Lý - Trần – Lê.
|
|
| Tương lai sông Hồng nằm giữa Thủ đô |
HNP - Theo kết quả tổng điều tra dân số ngày 1/4/2009, dân số Hà Nội là 6.448.837 người và rộng 3.324,92km2, gồm 10 quận, 1 thị xã và 18 huyện ngoại thành, đứng thứ hai về dân số và đứng đầu cả nước về diện tích, nằm trong 17 thủ đô có diện tích lớn nhất thế giới .
Năm 1954, thành phố có 53.000 dân, diện tích 152km2. Năm 1961, thành phố được mở rộng, diện tích lên tới 584km2, dân số 91.000 người. Năm 1978, Quốc hội quyết định mở rộng Thủ đô lần thứ hai với diện tích đất tự nhiên 2.136km2, dân số 2,5 triệu người. Năm 1991, địa giới Hà Nội tiếp tục thay đổi, chỉ còn 924km2, nhưng dân số vẫn ở mức hơn 2 triệu người. Trong suốt thập niên 1990, cùng việc các khu vực ngoại ô dần được đô thị hoá, dân số Hà Nội tăng đều đặn, đạt con số 2.672.122 người vào năm 1999.
Mật độ dân số Hà Nội hiện nay cũng như trước khi mở rộng địa giới hành chính, không đồng đều giữa các quận nội và ngoại thành. Trên toàn thành phố, mật độ dân cư trung bình 1.979 người/km2 nhưng tại quận Đống Đa ( trước đây là quận Hoàn Kiếm), mật độ lên tới 35.341 người/km2. Trong khi đó, ở những huyện ngoại thành như Sóc Sơn, Ba Vì, Mỹ Đức, mật độ không tới 1.000 người/km2.
Về cơ cấu dân số, theo số liệu năm 1999, cư dân Hà Nội và Hà Tây khi đó chủ yếu là người Kinh, chiếm tỷ lệ 99,1%. Các dân tộc khác như Dao, Mường, Tày chiếm 0,9%. Theo số liệu điều tra dân số ngày 1/4/2009, toàn thành phố Hà Nội có 2.632.087 cư dân thành thị chiếm 41,2% và 3.816.750 cư dân nông thôn chiếm 58,1%.
Trần Thục Hiền @ 11:23 25/02/2010
Số lượt xem: 2976
Các ý kiến mới nhất